|
Những đoản khúc Lê Đạt
Tác giả: Phạm Xuân Nguyên
Nhà thơ Lê Đạt tên thật là Đào Công Đạt, sinh năm 1929 tại Yên Bái, sống tại Hà
Nội. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp, tham gia phong trào Nhân Văn - Giai
Phẩm (1956 - 1958), bị "cấm bút" hơn ba mươi năm, trở lại đời sống văn học từ
1988, được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2006. Các tác
phẩm: Bài thơ trên ghế đá (thơ, 1955), Bóng chữ (thơ, 1994), Ngó lời (thơ,
1991), Hèn đại nhân (tập truyện, 1994), U75 từ tình (thơ, 2007), Mi là người
bình thường (tập truyện, 2007). Ông qua đời sáng 21/4/2008 tại bệnh viện
Việt-Đức (Hà Nội).
Bóng chữ còn in bóng người
Người “phu chữ” Lê Đạt đã dừng chân trên công trường chữ sản xuất thơ ca. Trong
“bộ tứ” nhà thơ thường được nhắc đến của thời Nhân Văn – Giai Phẩm, ông là người
ra đi thứ ba, sau Phùng Quán, Trần Dần. Cả bốn ông rồi ra đều được trao tặng
giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật. Nhưng hơn hết, Lê Đạt, cùng với
Hoàng Cầm, tuổi trời còn cho sống để được sống lại đời thơ của mình trong dòng
chảy văn học chung của dân tộc, để được phát lộ mình dẫu muộn màng trong sự vận
động mới của văn học nước nhà.
Lê Đạt trở lại với thi đàn sau gần ba mươi năm im tiếng là
khắc ghi ngay ấn tượng của mình đối với giới thơ và công chúng yêu thơ. Lê Đạt
của thời “Cha tôi” (1956) đã biết không cam chịu cảnh sống “Rũ đầu chết ngạt
trong bùn / Năm tháng mài mòn bao nhiêu khát vọng”. Lê Đạt của thời “Bài thơ
trên ghế đá” (1957) đã biết yêu tự do cho mỗi cảm xúc, tư tưởng. Khi ấy, Lê Đạt
đang là một nhà thơ trẻ với tất cả sự hăng say và mạnh mẽ của tuổi trẻ cùng với
một lòng tin chân thành và lãng mạn của một thế hệ vừa làm xong một cuộc kháng
chiến thần thánh giải phóng đất nước. Ba mươi năm sau, khi đất nước làm một cuộc
đổi mới, Lê Đạt đã ở tuổi lên lão, nhưng thơ ông nấu nung trong lò cừ tâm trí
văn hóa của một người biết sống và biết đọc đã làm bất ngờ cả những người vốn
chờ đợi. Không kể lớp trẻ như ông, hoặc trẻ hơn ông thời trước, họ đã bị kinh
ngạc. Tập thơ “Bóng chữ” (1994) của Lê Đạt như một tuyên ngôn, như một thách
thức người làm thơ và người đọc thơ.
Tuổi lú lẫn
ngược nhầm ga trẻ dại
Hay ngây ngơ không biết lối về già
Thơ thẩn chữ ngã ba
Những câu thơ không dễ đọc do sự phối trí khác lạ âm và thanh, chữ và nghĩa,
cùng với một tuyên bố nhà thơ là “phu chữ”, người làm thơ không thể chỉ biết
tiêu thụ cái nghĩa tự vị của từ như trong từ điển, đã khiến nhiều người hoang
mang, lo lắng. Chữ hay là bóng chữ mới là cốt yếu của thơ. Có người đọc thơ Lê
Đạt ngộ ra những khả năng, những chân trời mới của thơ. Có người, trái lại, đọc
thơ ông mà thấy như lạc lối. Một cuộc tranh luận đã bùng ra quanh “Bóng chữ”.
Nhiều người đọc, và khá nhiều người làm thơ, đã phải nghe giảng giải thơ là gì,
thơ là thế nào, như để có một chiếc chìa khóa mở cửa vào thơ Lê Đạt. Trong khi
gây đột biến đó cho làng thơ, Lê Đạt vẫn âm thầm, miệt mài sự lao động chữ như
khổ sai mà lại như khoái cảm của mình cho thơ. Mặc ai bàn tán, khen chê, ông cứ
thẳng một đường mình đi. Làm thơ không thôi, ông còn viết truyện mượn những câu
chuyện có thực trong đời các văn nhân thi sĩ cổ kim đông tây muôn đời để lật trở
những vấn đề luôn là mối bận tâm hàng đầu của những ai đã trót dan díu với chữ,
với thơ, đã nguyện làm phu chữ đến trọn đời. Ngay cả khi có những bạn trẻ gần
đây đem ý “phu chữ” của ông đối lập một cách trật hệ thống với ý “máu chữ” của
một nhà thơ khác để trách móc, phỉ báng ông, ông không chấp nê, không lấy làm
điều. Với ông, được làm thơ, được sống với thơ, được cùng thơ thỏa khát vọng
phiêu lưu cùng chữ và nghĩa, thế là đã đủ mãn nguyện, đã sung sướng được sinh ra
đời làm một người sáng tạo.
Đọc Lê Đạt ở bất cứ cái gì ông viết ra nói ra, dù đó là thơ, là truyện, là bài
tản mạn hay bài trò chuyện, tôi luôn bị ấn tượng bởi cách nói, cũng tức là phản
ánh cách tư duy, của ông. Một cách tư duy và một cách nói ra thành lời những
điều tư duy in đậm cái nét riêng không thể lẫn trộn của Lê Đạt. Nó khiến người
đọc không thể thờ ơ những điều ông nghĩ, ông nói. Nó khiến Lê Đạt vẫn hiện đại
đồng hành cùng lớp trẻ đầu thế kỷ XXI. Nó khiến người ta phải nhìn lại thơ bằng
con mắt duy lý, ngoài sự thành kính, đam mê, và cảm xúc. Ông không ngừng sục sạo
các ngõ ngách của từ và tiếng, của chữ và lời, không ngại làm mới và không sợ bị
coi là khác lạ. Cho nên mới có thơ Haikâu mang thi hiệu Lê Đạt. Có phải nhờ thế
những bài thơ ông viết ở buổi mới khi thành công đã lập tức được thừa nhận và
trở thành như cổ điển. Thơ Lê Đạt cổ điển trong vẻ hiện đại, đẹp trong sự tân kỳ.
Tưởng nhớ ông, hãy cùng đọc lại một bài thơ thành công nhất của ông.
Bóng chữ
Chia xa rồi anh mới thấy em
Như một thời thơ thiếu nhỏ
Em về trắng đầy cong khung nhớ
Mưa mấy mùa
mây mấy độ thu
Vườn thức một mùi hoa đi vắng
Em vẫn đây mà em ở đâu
Chiều Âu Lâu
bóng chữ động chân cầu
Cái mùi hoa đi vắng mà vẫn làm thức vườn, cái sự em ở đâu khi em vẫn ở đây – đó
chính là bóng chữ của Lê Đạt, chính là thơ ông.
Người “phu chữ” đã nằm xuống
Hai tiếng “phu chữ” từ khi được Lê Đạt nói ra đã trở thành thông dụng, thành một
thứ câu cửa miệng trong giới thơ và cả trong công chúng. Không dễ được như vậy
nếu nó không được đảm bảo bằng chính cả cuộc đời lao động nghệ thuật thơ, lao
động chữ của ông. Đối với Lê Đạt, cũng như với các thân hữu văn chương của ông
Hoàng Cầm, Trần Dần, Dương Tường, làm thơ là làm chữ, là phải khổ công luyện chữ
để bắt những con chữ bình thường, đơn giản với nghĩa tiêu dùng hàng ngày bật ra
những nghĩa mới, những vẻ đẹp bất ngờ từ sự tương cận, cọ sát, va chạm của chúng
khi đứng cạnh nhau trong một trường liên kết và liên tưởng do chính nhà thơ đưa
chúng vào. Từ những bài thơ mang nặng tính hiện thực thời kỳ đầu, trải hơn ba
mươi năm âm thầm đọc và học, tìm và thử trong thế giới con chữ Việt, khi hoàn
cảnh lịch sử mở cửa cho ông trở lại thi đàn vào thập niên 1980, Lê Đạt đã có
vàng luyện từ quặng của mình đem ra trình trước thơ. Hai tập “Bóng chữ” (1994)
và “Ngó lời” (1997) của ông thực sự đã gây bất ngờ đột phá. Người đọc bước vào
thơ ông với tâm trạng vừa thích thú, tò mò, vừa e dè, hoang mang. Nhưng có một
điều chắc là họ đã được nhận một khoái cảm khác lạ từ những phá cách kết cấu câu
chữ đưa lại những kết hợp mới của từ mà người “phu chữ” Lê Đạt đã dày công tìm
tòi, thử nghiệm. Này là mùa thu “Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ”. Này là sông
quê “nắng mười tám má bờ đê con gái”. Này là mới tuổi “mùa xuân phăn
phăn lòng đường”. Này là tỏ tình “liễu đầu cành độc thoại đoạn trường
xanh”. Ông có hẳn một kiểu thơ Haikâu, chỉ từng cặp thơ thôi nhưng mỗi lần
đọc là đưa lại một khám phá, mỗi lần nhìn con chữ là lại thấy một công phu sáng
tạo. Tưởng như ông gò mình vào giới hạn tối thiểu của hai dòng thơ, nhưng đấy là
cách ông tự thử thách năng lực thơ của mình thông qua thử thách các khả năng
biến hóa, thay đổi của chữ, để trong một diện tích tối thiểu chữ đạt được tối đa
năng lượng cảm xúc thơ.
Xuân bắt đầu tàu nhanh
xanh thức ngủ
Tình tăng bo toa đỗ đoạn bạc đầu
Ngực dự hương thơm đêm mùi tuổi chín
Mắt lá tre đằng ngâm mộng ba giăng
Máy nhắn chim tin tìm mê lộ số
Lòng khác tình tim đổi số lặng thinh
Thế hệ nhà thơ của Lê Đạt càng cao tuổi càng trẻ, trẻ trong tư duy, cảm xúc, trẻ
trong cách sống. Có lẽ cái trẻ ấy của Lê Đạt đến từ tri thức ông thu nhận và
tích lũy được qua sách vở tự học và từ những trải nghiệm đường đời nhiều gian
truân và khổ nạn. Ông chơi nhiều với các nhà thơ trẻ, cổ vũ họ tìm tòi, khám phá,
thách thức họ khẳng định mình, với ông trước thơ tất cả đều bình đẳng trong
những nỗ lực sáng tạo không ngừng.
Hai tập sách gần đây nhưng đã thành ra là cuối cùng của Lê Đạt: tập truyện “Mi
là người bình thường” và tập thơ “U75 từ tình” vẫn rừng rực một nỗi khát vọng
sống, khát vọng thơ, vẫn nguyên khí chất Lê Đạt. “Trong tình yêu người ta
thường tiêu hai thứ tiền. Và nhà thơ bao giờ tim cũng chỉ tệ mạnh. Riêng có từ
vốn nặng lòng. Thơ chính là từ tình, cũng có nghĩa tự tình tức là yêu đơn thương,
yêu thất tình, yêu bóng. Đó là nỗi sầu vạn cổ cũng là thách thức và niềm lạc
quan ngoan cố của nhà thơ”. Lê Đạt có nhiều câu nói với nhiều cách nói khác
lạ và ấn tượng như vậy về thơ, nghề thơ và về nhà thơ.
Bây giờ Lê Đạt, người “phu chữ”, đã nằm xuống, sau “một đời lao lực, một đời thơ”.
Những người đọc từ nay chỉ còn gặp ông trong “bóng chữ”, và nghe ông trong “ngó
lời”. Và họ biết ơn ông đã làm cho họ biết quý yêu chữ, trân trọng chữ, không
chỉ là để làm thơ. Nhưng đặc biệt là nhà thơ, như Lê Đạt: “Nhà thơ là người
lao động ở môi trường tâm áp cao mà không có bồi dưỡng độc hại để sản xuất giống
đặc chủng cho những mùa tình bội thu”. Đó là niềm kiêu hãnh của Lê Đạt.
Bay cho cao, bay cho xa
Đó là tiếng kêu mạnh mẽ, tin tưởng của người thơ trẻ Lê Đạt hơn năm mươi năm
trước, vào giữa thập niên 1950, khi đất nước vừa ra khỏi cuộc chiến tranh lần
thứ nhất phân chia hai miền, nửa miền Bắc bắt tay vào công cuộc kiến thiết mới
cuộc sống và tâm hồn con người. Cái mới là đòi hỏi thường trực của kiếp nhân
sinh, càng là đòi hỏi lớn của thơ ca nghệ thuật, và càng là đòi hỏi cấp thiết
của tuổi trẻ. Tuổi hai mươi phải dũng cảm phá bỏ ràng buộc của những lề quen
thói cũ, phải không cam chịu kiếp sống an phận thủ thường làm thui chột mọi khả
năng sáng tạo. Những kiếp người sống lâu trăm tuổi / Y như một chiếc bình vôi
/ Càng sống càng tồi / Càng sống càng bé lại. Trong bản hòa tấu những tiếng
thơ khao khát làm mới mình, làm mới thơ để dâng hiến cho cuộc đời và đất nước từ
giai phẩm mùa xuân 1956, Lê Đạt đã cất tiếng kêu gọi:
Mới! Mới!
Luôn luôn Mới
Bay cho cao
Bay cho xa
Trên những vết già nua cũ kỹ
Trên lề đường han rỉ
Vượt ngày hôm nay
Vượt ngày mai, ngày kia,
Vượt mãi…
Tiếng kêu ấy đã theo ông đi trọn cuộc đời làm người và làm thơ. Bị hoạn nạn, gặp
khó khăn, nhưng ông không bao giờ bỏ tiếng kêu ấy lại phía sau. Đó chính là
tiếng thơ của Lê Đạt. Ông, cùng với Trần Dần, Đặng Đình Hưng, là ba nhà thơ
trong phong trào Nhân Văn cách tân mạnh mẽ, quyết liệt nhất của thơ Việt nửa sau
thế kỷ XX.
Cách tân thơ của Lê Đạt là ở Chữ. Ông có thể mượn câu nói của một nhà thơ Pháp
để nói về mình: Hãy đập vào chữ anh dùng, thiên tài là ở đấy! (“Hãy đập vào trái
tim anh, thiên tài là ở đấy” – A. Musset). Khi văn chương là ngôn ngữ, mà thơ
lại là sự tập trung xoáy sâu vào ngôn ngữ, và ngôn ngữ hiện hình trên trang giấy
bằng chữ, thì sao người làm thơ lại không trăn trở, vần xoay sống chết với chữ
để bắt từng con chữ biểu phát ra những ánh chiếu khác lạ về âm sắc, nghĩa lý.
Lao động chữ là một thứ lao động khổ sai nhưng tự nguyện, đau đớn nhưng khoái
cảm. Lê Đạt không tự gọi mình và không cho gọi mình là thi sĩ. Ông chỉ nhận mình
là “phu chữ”. Nội hai chữ này thôi đã nổi lên cái chất Lê Đạt. Sự lắp ghép, kết
hợp “phu” và “chữ” đã tạo ra một từ mới, một khái niệm mới, một hình dung mới,
biểu đạt được công phu tử vì thơ của người thơ. Nói tới Lê Đạt, vì vậy, trước
hết và trên hết, là nói tới một người lao động chữ và nghĩa. Ông đã từng viết
như một tuyên ngôn: “Nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải ở nghĩa “tiêu dùng”,
nghĩa tự vị của nó, mà ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ
trong tương quan hữu cơ với câu thơ, bài thơ”. Ông quan niệm: Mọi câu thơ
hay đều kỳ ngộ / Hẳn phải siêng năng, có lòng thành / và nhất là biết chờ /
người đẹp vỏ chữ bước ra / giờ các con phe đi ngủ.
“Bóng chữ” (1994) tập thơ đưa ông tái xuất văn đàn là kết quả của mấy chục năm
im lặng đọc, và nghĩ, và viết, vượt lên trên những hệ lụy khó nhọc của đời sống
khốn khó vây níu mình. Lê Đạt trở lại đã không tụt hậu, đã vẫn mới, vẫn đủ năng
lượng đốt cháy mình cho thơ, vẫn ở hàng đầu những người khổ sai và hạnh phúc vì
chữ. Tập thơ lập tức gây dư luận, tạo dư chấn, và để dư âm.
Anh đến mùa thu nhà em
Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ
Mà cho đấy rửa lông mày
Nông nổi heo may từ đó
Mưa đêm tuổi nổi ao đầy
Đồi cốm đường thon ngõ cỏ
Bướm lượn bay hoa ngày
Tin phấn vàng hay thuở gió
Tóc hong mùi ca dao
Thu rất em
và xanh rất cao
Mùa thu đã được nói quá nhiều trong thơ ca dân tộc
và nhân loại, nhưng bài thơ hay này của Lê Đạt là minh chứng cho một chân lý
trong công việc sáng tạo: không có đề tài cũ, chỉ có người thơ không biết làm
mới đề tài. Lê Đạt đã sử dụng và sai khiến các con chữ một cách sáng tạo tài
tình để đưa tặng người đọc một bức tranh thu tình tứ vừa rất ca dao truyền thống
vừa rất tân thời, hiện đại. Có thể tìm được trong tập “Bóng chữ” nhiều câu hay
và khác lạ mang đúng “thi hiệu” Lê Đạt như vậy. Sớm hạ búp sen đôi gió / Sóng
đòng buồm nhấp nhô thơm / Tóc liễu trường tân thơ cổ / Trời xanh côban rất Đường
(Vào hè). Chữ khép lối đồi chim non câu ngủ / Trang tầm xuân cau chưa mở
nụ ngà / Bến cửa ngực đèn lòng ga trăng rõi / Ngõ trắng bời bời mây nổi / U ú
thiên hà tàu nhả khói ngã ba (Mới tuổi).
Tác phẩm giờ đây trở thành cuối cùng của Lê Đạt là tập “U75 từ tình”. Một tập
sách như tổng kết cả một đời thơ lao lực đam mê của Lê Đạt khi tập hợp trong đó
có những phần của các tập thơ trước và đặc biệt có những “Đoản ngôn” là những
suy nghĩ, nhận xét của riêng ông, những câu truyện ông lấy ra từ cuộc đời các
danh nhân đông tây kim cổ, tất cả đều xoáy vào chủ đề thơ ca và cuộc sống. Đó
như một kiểu di chúc nghệ thuật của Lê Đạt. Ông đã ra đi sau khi vừa hoàn thành
một cuộc hành trình dọc ngang đất nước hào sảng và thanh thản. Đọng lại với đời
một hình ảnh Lê Đạt có tiếng cười to, đôi mắt hóm hỉnh, và khuất sau đó những âm
thầm vật lộn trên trang viết. Tưởng nhớ Lê Đạt, cách tốt nhất là hãy học theo
tinh thần của ông: “Cái mới thường vượt biên không có giấy thông hành”.
“Phó thường dân” nhà thơ
Lê Đạt xuất hiện trong các tập sáng tác giai phẩm mùa xuân, mùa thu năm 1956
bằng những bài thơ đầy nhiệt huyết công dân, đầy tinh thần cống hiến cho đất
nước, cho thơ ca, khi đất nước vừa tắt khói lửa một cuộc chiến tranh và nửa nước
đang trong cơn say lãng mạn. Mang tinh thần hừng hực như nhà thơ Nga V.
Mayakovsky - một kiểu mẫu thơ hồi ấy ông và các bạn ông noi theo – Lê Đạt viết
thơ “Gửi kế hoạch nhà nước 1956” để thúc giục phải nhanh hơn, mạnh hơn, quyết
liệt hơn cho sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới.
Thực dân làm mười hai năm
Ta hoàn thành trong bốn tháng
Mỗi ngày thi đua cách mạng
Bằng mấy chục ngày thường
Ta nắm cổ thời gian
Quất cho phi nước đại.
Kéo ngày mai gần lại
Thúc vào lưng cuộc đời
Mở máy đến chân trời cộng sản
Ông thấy sứ mệnh của thơ là phải tham gia trực tiếp vào cuộc sống, phải đào
luyện những con người là chủ nhân mới của đất nước. Làm thơ đối với người thơ Lê
Đạt hồi tuổi thanh niên ấy cũng là một thứ lao động vinh quang. Nhà thơ tự
nguyện được điều động, phân công để thơ có ích cho đời.
Em ơi!
Anh thức thâu đêm suốt sáng
Moi óc làm thơ
Moi tim làm thơ
Như người thợ
Chui xuống lòng hầm mỏ
Moi than moi lửa
Đốt sáng cuộc đời …
Anh muốn Đảng gọi anh đến nơi
Hội ý về cuộc sống
Điều động anh vào Bộ Tâm hồn quần chúng
Giúp Trung ương
Xây dựng
những CON NGƯỜI
Con người mang sẵn trong mình ý chí và khát vọng cái mới như vậy đã bị đặt vào
một hoàn cảnh sống nghiệt ngã, cùng với các bạn hữu cầm bút của mình, trong suốt
hơn ba chục năm. Nhưng chính ý chí và khát vọng đó đã tôi luyện ông, đã giúp ông
nghĩ suy bằng cái đầu của mình và đứng vững trên đôi chân của mình, vượt qua thử
thách, hoạn nạn, và chiến thắng bằng Thơ. Lê Đạt là Lê Đạt ở thơ, một thứ thơ đã
được chưng cất qua lò lửa văn hóa đông tây kim cổ mà ông nhóm lên từ trong gian
khổ, mà ông đã kiên trì giữ lửa không để lụi tắt qua gió mưa cuộc đời, để khi
được đưa ra ánh sáng thứ thơ đó đã tỏa một mùi hương thơ của người thơ Lê Đạt. “Bóng
chữ”, “Ngó lời”, “U75 từ tình” - những tập thơ của ông, là thành quả của một
đời lao động thơ cật lực của một người tự nguyện làm “phu chữ” để đưa đến cho
người đọc những âm nghĩa mới lạ, tinh ròng của tiếng Việt. Hai chục năm trở lại
đời sống bình thường của văn học, Lê Đạt đã để lại một dấu ấn riêng của mình
trong sáng tác thơ, trong quan niệm thơ, trong hành xử thơ. Thơ Lê Đạt – ba
tiếng này đã là một dấu chỉ, một “thi hiệu”, một mời gọi và thách thức. “Tôi
tôn trọng những nhà thơ sinh sự với văn phạm để tạo ra sự sinh của ngôn ngữ”
– Lê Đạt phát ra nhiều những châm ngôn như vậy để người đọc có cái chỉ hiệu bước
vào thế giới thơ ông.
Đường về nhà em
ba mươi sáu ngõ
Nêông liễu hồ tóc gió ngã tư
Xuân lưa mưa mini mùa én đỏ
Khăn bay cờ
lòng phố cổ
lay mơ
Lê Đạt và những người đồng hội đồng thuyền với ông từ giữa thế kỷ XX đã kiên
quyết khởi lên một cuộc cách tân thơ Việt, đoạn tuyệt với Thơ Mới (“thành tựu
của họ đòi hỏi ta phải thử những thành tựu khác” – ông nói), đi tìm những cách
biểu hiện mới cho thơ, tạo lập những giá trị chuẩn mực mới của thơ. Những tháng
năm chìm trong bóng tối và im lặng ông đã cưỡng chống lại số phận bằng cách vùi
mình vào những con chữ đến từ nhiều ngõ ngách văn hóa để tích hợp, hội tụ, hấp
thụ và biến cải chúng thành một vốn văn hóa lớn của mình, và trên nền tảng đó
ông xây cất một ngôi nhà thơ riêng. Những sáng tạo đổi mới thơ của Lê Đạt, cũng
như của Trần Dần, Đặng Đình Hưng, đã đóng góp quan trọng cho tiến trình hiện đại
của thơ Việt, và nói riêng đó là dấu chỉ giá trị của một phong trào văn học đã
dấy lên cách nay hơn nửa thế kỷ.
Ông vừa làm một cuộc hành trình lên Tây Nguyên, xuyên miền Trung, vào Sài Gòn và
bay ra Hà Nội. Chuyến đi kết thúc bằng sự yên nghỉ đời đời như một sắp đặt của
số phận. Nhưng có lẽ ở bên kia thế giới ông sẽ cám ơn số phận, vì nào ta có chọn
được số phận của ta đâu. Số phận đã cho ông trở thành nhà thơ Lê Đạt chứ không
phải thành một nhà nào khác như lẽ ra có thể. Để ông có thể “xưng danh” một cách
bình thường và kiêu hãnh rất Lê Đạt:
Phó thường dân
phố nhỏ vô danh
vô giai thoại
Thành tích
mấy trang giấy sờn
mấy câu thơ bụi
núi Vô Sơn
Thế là đủ, với ông – nhà thơ Lê Đạt.
Tiễn đưa
Bây giờ, nhà thơ Lê Đạt đang ở ga cuối của một hành trình.
Ông đã dừng lại, sau một chuyến đi thực tế ngờ đâu là cuối đời, lên Tây Nguyên,
về miền Trung, vào Sài Gòn. Chuyến đi của một đoàn các văn nghệ sĩ, trí thức tới
một vùng đất cao nguyên đang là mối trăn trở, bận tâm lớn của đất nước hôm nay.
Lê Đạt tham gia đoàn hăm hở, vui vẻ, nhiệt huyết, mặc dù sức khỏe ông đã sút kém.
Ông đi chuyến đi này như một cuộc hành hương, một cuộc hành trình, để ngấm và
ngẫm thêm về kiếp sống, kiếp người.
Ông đã dừng lại, sau một chuyến đi cuộc đời trải nhiều khúc quanh. Lê Đạt đã
từng làm việc ở Ban tuyên huấn trung ương đảng cộng sản Việt Nam, ở bộ phận thư
ký cho tổng bí thư đảng Trường Chinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Lê Đạt
khi hòa bình về trên nửa nước đã biết nhận ra rất sớm những kiếp người “Hai
vai nhô lên / Đầu lún xuống / Như không mang nổi cuộc đời” để rồi đánh mất
mình trong “mùi ẩm mốc, tiếng mọt kêu cọt kẹt”, từ đó ông kêu gọi giải
phóng con người, giải phóng thơ ca. “Từng từng giọt mồ hôi / Đẫm bản đồ chính
sách / Anh mở lối giữa cuộc đời ngóc ngách / Óc anh là một công trường / Mỗi
dòng thơ là một cây số mới / Trên con đường đi tới / Xã hội / Ngày mai / Một
tiếng súng tương lai / Nổ vào đầu dĩ vãng”. Lê Đạt đã lâm tình thế sau vụ
Nhân Văn – Giai Phẩm ba mươi năm có lẻ chìm trong bóng tối và im lặng, khi đó
chỉ có thơ cứu chuộc được ông.
Ông đã dừng lại, sau một chuyến đi thơ ca khổ ải như vác cây thánh giá lên đồi
Sọ và vinh quang như được phục sinh. Thơ đã cho ông tiếng nói làm một công dân
chính trực, làm một con người đứng thẳng, và làm một nhà thơ “phu chữ”. Thơ đã
chứng tỏ và trình bày ông cho Công Lý, cho Chân Lý, cho cái Đẹp. Thơ đã đưa ông
đồng hành cùng dân tộc và tuổi trẻ ở thời buổi mới nhiều vận hội nhưng cũng lắm
bất trắc, cam go. Với chữ và thơ Lê Đạt là người tình chung, là kẻ tận hiến.
Ông đã dừng lại, sau những chuyến đi, sau một hành trình có quanh co, khúc khuỷu
nhưng nhất quán, để bây giờ trước mặt chúng ta là một Lê Đạt – con người, một Lê
Đạt – nhà thơ, với nghĩa đầy đủ của từ này.
Giờ phút chia tay ông ở ga cuối cuộc hành trình này, chúng ta - những người cùng
thế hệ ông, những người bạn vong niên của ông, những người đồng tâm đồng chí
cùng ông, những người đọc thơ ông, như hãy còn nghe rõ tiếng ông cười sảng khoái
và giọng ông vang to khi nói ra những điều gan ruột cho thơ, cho cuộc sống, cho
con người. Ông đã sống trọn một cuộc đời nhân văn nghệ thuật. Ông đã khép mắt
lại, nhưng chúng ta ghi nhớ điều khác biệt ông đã chỉ ra: “Người quân tử dùng
mắt để nhìn / Kẻ tiểu nhân dùng mắt để nhòm”.
Nhà thơ Lê Đạt và Tình U75
Tác giả: Hữu Việt
Tuổi 80 “lão tướng” Lê Đạt lại tiếp tục lên đường vào trận thơ mới có tên gọi
“U75 từ tình” (ĐB Phụ Nữ, 2007). Có lẽ để giúp bạn đọc khỏi phải vắt óc đoán
trận chữ rất biến hóa của mình ngay từ cách đặt tên tập thơ, ông đã dành phần
phi lộ để định nghĩa từ tình.
“Đã có lúc tôi ngờ rằng các nhà thơ tình ít nhiều đều có họ với Từ Thức. Đều gặp
Thiên thai ít nhất một lần trong đời và vĩnh biệt nó suốt đời. Từ tình là những
từ thức trong sâu thẳm ta phút giây tống biệt”. Và “ Thơ chính là từ tình, cũng
có nghĩa tự tình tức là yêu đơn thương, yêu thất tình, yêu bóng”.
Tập thơ gồm 2 phần : Thơ và đoản ngôn. Phần thơ ngoài một số bài thơ nổi tiếng
như Át cơ, Thu nhà em, Quan họ... đăng thêm, còn lại chủ yếu là những bài thơ
mới thể haicâu độc đáo. Một nguyên tắc mà những người sáng tác đều hiểu rõ, đó
là viết càng ngắn càng khó.
Thơ hai câu vừa là sáng tạo, vừa là thách thức nhiều rủi ro với người thơ tự
nhận (được mệnh danh là) phu chữ. Cho dù Lê Đạt xưng danh tình U75 một cách hài
hước theo cách nói thời thượng bây giờ thì những câu thơ vẫn nhiều vang vọng, đa
nghĩa mang tên “a còng, 8X”: Áo gió buồm lên thân biển động/Lưng thuyền chành
sóng ngực cồn trăng (Phong cảnh), Xuân sớm liễu rờn hoa thể dục/Ngó đèn hơi ngực
phố đầy em (Hồ sớm), Mê lộ đào cờ thế ngàn năm trước/Lòng trần hoa lần gỡ nước
ghềnh xuân (Cờ thế)...
Tình U75 trẻ, nhưng những chiêm nghiệm U75 và hơn nửa thế kỷ thâm canh thơ của
ông thì thật buồn, sâu xa và thoát tục: Trọn đời trọ góc nhìn thiên hạ/Cam tâm
làm khách lạ bản thân (Trọ), Nghìn năm tu chưa thành chính quả/Hồn hoa bay bướm
thả trắng rừng (Hoa đại), Xuân én hẹn mùa chờ hoa đi mất/Lộc xanh thừa thiếu
suất một ngã tư (Mùa chờ)...
Còn nhớ cách đây vài năm, ở tuổi U75 Lê Đạt phát bệnh cũ, mất ngủ triền miên.
Ông khá bi quan về sức khỏe của mình và đọc tôi nghe câu thơ Đường: Bất tài minh
chủ khí/Đa bệnh cố nhân sơ (Không có tài thì minh chủ coi thường/Lắm bệnh tật
thì bạn cũ cũng nhạt xa). Thời kỳ này để lại dấu ấn trong “Tình ca mất ngủ”: Bạn
phần lớn đều đã thay địa chỉ/Tái định cư vùng ngoại thị Yên Kỳ/Đó có bãi đánh
cầu lông không nhỉ/Mưa bụi hồ sớm liễu rủ ta đi (Tái định cư).
Viết về cõi bên kia mà vẫn hóm, vẫn hài hước một người thích đùa. Thế rồi bằng
nỗ lực phi thường, ông đã vượt lên bệnh tật, bền bỉ viết để hôm nay có tập thơ
mới trên tay bạn đọc.
Phần Đoản ngôn là một nét độc đáo riêng rất Lê Đạt trong “Từ tình U75”. Có thể
gọi đó là những truyện mini, những cách ngôn đã đúc rút ở mức tối giản, bàn đến
nơi về việc nghề, việc đời và việc thơ, được thể hiện thật hóm hỉnh (đôi khi
trào lộng) và sâu sắc theo tiêu chí chữ ngắn, tình dài, nghĩa nặng.
Những đoản ngôn thường bất ngờ, nhiều dư âm và đa nghĩa. Phải chăng đó là lý do
nó trữ lượng gần nửa tập thơ này của ông? Người đọc có thể tìm thấy những đồng
cảm riêng, còn với người viết bài thì những câu thế này thật thú vị: Người quân
tử dùng mắt để nhìn/Kẻ tiểu nhân dùng mắt để nhòm (Khác biệt), Kẻ thù của bình
đẳng là chủ nghĩa bình quân (Kẻ thù), Điểm tham quan nóng nhất của lịch sử là
Suối Giải Oan (Tham quan), Chữ không cấp sổ đỏ cho bất cứ nhà văn nào (Sổ đỏ),
Nhiệm vụ của thơ không phải sản xuất ra chân lý, mà những chất cường cảm, những
viagra phục tráng khả năng chân lý (Nhiệm vụ của thơ), Trong mọi động tác chân,
kỵ nhất là động tác dậm chân tại chỗ, vì nó động mà không đậy (Dậm chân) v.v...
10/2007
(Theo Tiền Phong)
Gặp thơ Lê Đạt một thời
Tác giả: Hà Nhật
Phải rất lâu sau Hà Nội giải phóng (1954) tôi mới bắt đầu biết đến thơ Lê Đạt.
Là học sinh vùng địch tạm chiếm, tôi chỉ biết thơ kháng chiến có Tố Hữu, rồi
Hoàng Cầm, Hữu (tức Hữu Loan), Quang Dũng…
Những bài thơ đầu tiên đọc được của Lê Đạt đã chẳng gây ấn tượng gì lắm cho tôi.
Đến khi đọc mấy bài của Lê Đạt trên Giai phẩm mùa Xuân 1956 với những câu thơ
đại khái như xã hội chủ nghĩa không thể vác ba lô đi bộ, tôi chỉ thấy hơi lạ mà
không cảm thấy thích. “Lạ” là rất cần, nhưng chưa phải là tiêu chí số một của
thơ. Nói như Nguyễn Văn Siêu, thơ trước hết phải làm xúc động lòng người.
Thế rồi, đùng một cái, báo Văn nghệ đăng bài thơ “Cha tôi” của Lê Đạt. Cả giới
làm thơ, trẻ như già, rúng động. Nhìn chung thì kết cấu của bài thơ không có gì
lạ so với những bài thơ ngày đó: nhìn về quá khứ, nhận ra quá khứ buồn đau để
cảm thấy mình thật may mắn hơn thế hệ cha ông. Kiểu thơ này, đọc tập thơ nào,
bài thơ nào trên bất cứ tờ báo nào lúc này mà chẳng thấy. Nhưng với kết cấu ấy,
Lê Đạt trong “Cha tôi”, có những câu thơ chưa từng có, những câu thơ như từ gan
ruột người ta mà ra, những câu thơ như từ trải nghiệm đau đớn của cuộc đời mà ra.
Lâu lắm người đọc thơ Việt Nam mới được đọc một bài thơ như thế. Trải qua hơn
nửa thế kỷ, tôi chỉ còn nhớ một số câu thơ. Chẳng hạn như những câu mở đầu:
Cha tôi
Đất quê Đề Thám
Rừng rậm sông sâu
Con gái cũng theo đòi nghề võ
Những câu thơ nói về cái hăm hở của chàng trai mới vào đời, sang sảng ngâm lên
những câu Kiều của Nguyễn Du như chính là chí khí của mình:
Phong trần mài một lưỡi gươm
Những phường giá áo túi cơm sá gì
Những câu nói về một thế hệ thanh niên Việt Nam:
Khóc Phan Chu Trinh như khóc người nhà mình
Rồi đến những câu thơ nói về cái bất đắc chí của con người sinh bất phùng thời,
sau chứng kiến thất bại liên tiếp của các phong trào cứu nước, biết mình không
thể làm để thắng nổi những oan trái trong đời, đành chấp nhận sống chung với nó
nhưng không công nhận nó:
Ngâm mấy câu Kiều
ôm mặt khóc
Cho đến khi sự chấp nhận đã trở thành thói quen, con người ta cam chịu với nỗi
nhục phải sống, “càng sống càng tồi”, con người ta trở nên hèn đi, sống mà chỉ
như cỏ cây, không phải là sống. Hình ảnh người cha lúc này thật là tội nghiệp:
Hai vai nhô lên
đầu lún xuống
Như không mang nổi cuộc đời
Bóng in tường vôi
im lặng
Ngọn đèn leo leo ánh sáng
Bóng với người
như nhau
Đến những câu thơ này thì cực hay:
Mùi ẩm mốc tiếng mọt kêu cọt kẹt
Ở chân bàn hay ở cha tôi? [1]
Có lẽ đọc hết một tập Sống mòn (chính xác là Chết mòn), một truyện “Đời thừa”
của Nam Cao, nỗi cay đắng cũng chỉ đến thế thôi.
Có thể nói, với “Cha tôi”, Lê Đạt mới thực sự đươc mọi người coi là nhà thơ, nhà
thơ của mình, nhà thơ của thời đại. Ngay năm đó, “Cha tôi” được đưa vào sách
giáo khoa Giảng văn lớp 10, lớp cuối cùng của nhà trường trung học ở miền Bắc.
Mọi người coi đó như một điều hoàn toàn tự nhiên. Tôi nhớ, vào năm ấy, không ít
nhà thơ đã lấy thơ “Cha tôi” làm như cái chuẩn để mà khen chê thơ hay thơ dở.
Cũng trong năm đó, một trong những cái tội của giáo sư Trương Tửu là dám từ trên
bục giảng đường Khoa Văn của trường đại học Việt Nam cho rằng “đem đặt bên cạnh
bài thơ ‘Cha tôi’ của Lê Đạt thì cả tập thơ Việt Bắc chẳng là gì cả”. Nên nhớ
rằng Việt Bắc vừa được trao giải nhất về thơ trong giải thưởng của Hội Văn nghệ
Việt Nam cho hai năm 1954-1955. Cũng nên nhớ rằng giáo sư Trương Tửu là vị giáo
sư duy nhất ở Việt Nam không có bằng cấp nào cả nhưng là thần tượng của mấy thế
hệ sinh viên văn khoa và mỗi lời của thầy nói ra thì đều như mang theo một thứ
ma lực huyền bí, không thể cưỡng lại được. Thầy Trương Tửu có cái tật mà sinh
viên nào cũng biết là khi đã khen ai thì không tiếc lời, mà lời của thầy thì
toàn là “lời có cánh”. Chẳng hạn thầy khen thơ Hồ Xuân Hương là “nếu đem những
câu thơ ấy mà vắt, tưởng như nhìn thấy chất sống chảy ra ròng ròng…”
Lê Đạt với “Cha tôi”, thế là hầu như trong giới làm thơ và yêu thơ, ai cũng biết.
Tuy nhiên, đó chỉ mới là khúc dạo đầu cho một chặng mới của Lê Đạt.
Cứ như một chuyện lừng lững từ trên trời rơi xuống, tờ báo Nhân văn số 1 được
rao bán trên các nẻo phố Hà Nội vào một buổi sáng kia. Đi đâu cũng thấy có người
mua báo Nhân văn, đọc báo Nhân văn. Mà tờ báo Nhân văn thì ngay trang đầu là bài
thơ của Lê Đạt: “Nhân câu chuyện mấy người tự tử”.
Thơ gì mà quái lạ thế này? In ở trang 1, lại còn “xem tiếp trang 2”. Thơ không
có vần, lại còn “leo thang” lên xuống gập ghềnh. Thơ mà lại còn có “tái bút” nữa!
Thế nhưng người đọc ngày hôm ấy có quan tâm gì đến chuyện đó đâu. Có thể nói
trong lịch sử thơ Việt Nam xưa nay, chưa có bài thơ nào làm choáng váng người
đọc với một số lượng đông đảo đến như vậy. Tôi đem chuyện này kể với anh Nguyễn
Bính, lúc này là chủ bút báo Trăm hoa. Anh Bính bảo:
“Thì bởi vì đây là tiếng chuông cứu khổ mà lại!”
Quả thật, hình như lúc này mọi quy tắc về thơ (ấy là nói thơ theo quan niệm như
cho đến lúc bấy giờ người ta vẫn nghĩ) đều bị bỏ qua hết. Lê Đạt bắt đầu cứ như
người ngồi kể chuyện vặt, một câu chuyện tò mò:
Báo Nhân dân số 822
Có đăng tin mấy người tự tử
Vì câu chuyện tình duyên trắc dở
Đêm mùa hè nóng nôi
như lửa
Tôi ngồi làm thơ
Vừa giận, vừa thương mấy người xấu số
Chân chưa đi hết nửa đường đời
Đã vội nằm im dưới mộ.
Tiếp theo là những câu thơ rất trữ tình:
Chết là hết
hết đau
hết khổ
Nhưng cũng hết vầng trăng soi sáng trên đầu
Hết những bàn tay e ấp tìm nhau
Lê Đạt hình dung ra cái cảnh đôi trai gái yêu nhau trước khi họ tìm đến cái chết:
Người con trai ngồi trên gò đất
Thổi sáo gọi người yêu
Làm nắng chiều
dừng lại
Lúa đương thì con gái
Cũng thấy rộn trong lòng
Xôn xao gió thổi
Đầu sát bên đầu bàn chuyện tương lai
Quả là những câu thơ đẹp một vẻ đẹp hiền lành kể về một mối tình đẹp nhưng bình
thường của một chàng trai quê với một cô gái quê. Nếu chỉ xét về nội dung,
chuyện này chẳng có gì khác lắm câu chuyện Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài mà người Hà
Nội và người miền Bắc hồi đó ai cũng biết. Bởi có một bộ phim Trung Quốc đang
chiếu và một vở cải lương đang diễn ở các rạp Kim Chung, Kim Phụng. Tuy nhiên,
đó chỉ là những tia khói báo hiệu cho một sự bùng nổ.
Bởi Lê Đạt không quy trách nhiệm cho một Chúc ông, Chúc bà nào đó làm chuyện “rẽ
thúy chia uyên”. Lê Đạt viết những câu thơ chỉ có thể là thơ của Lê Đạt:
Người công an đứng ngã tư
đường phố
Chỉ huy
bên trái
bên phải
xe chạy
xe dừng
Rất cần cho việc giao thông
Nhưng đem bục công an
máy móc
đặt giữa tim người
Bắt tình cảm ngược xuôi
Theo đúng luật đi đường nhà nước
Có thể gây rất nhiều chua xót
ngoài đời
Mọi sự cứ là nổ bùng lên. Đây đâu còn là chuyện của mấy người tự tử, đây là
chuyện của cuộc sống đang diễn ra, chuyện của hàng triệu con người. Không chỉ là
chuyện yêu nhau, mà là chuyện cơm áo, chuyện số phận con người. Cho đến bao
nhiêu năm sau, những câu thơ ấy vẫn còn được nhiều người nhắc tới hoặc đọc lên.
Thì ra Lê Đạt không làm thơ về mấy người tự tử, mà chỉ là nhân câu chuyện mấy
người tự tử!
Sau này, đến lúc phản kích, những người tham gia cuộc phản kích phát hiện ra
rằng trong bài thơ của mình, Lê Đạt đã dùng một biện pháp nghệ thuật khôn khéo
có tên là symbole équivoque (hình tượng hai mặt). Sự phát hiện này đã trở thành
một thói quen, một phương hướng quan trọng cho việc xem xét và đánh giá tác phẩm
thơ suốt từ đó đến mãi tận bây giờ. Thơ Lê Đạt, thơ Trần Dần là équivoque, “Lời
mẹ dặn” của Phùng Quán là équivoque, nhiều bài thơ có thể équivoque! Symbole
équivoque, ôi, con ngoáo ộp đã treo lơ lửng lên số phận bao nhiêu bài thơ, bao
nhiêu người làm thơ. Thơ mà thẳng đuột như ruột ngựa thì mang tiếng là thơ thiếu
chiều sâu, thơ không để lại dư vị cho người đọc phải ngẫm nghĩ, nhưng thơ mà có
hai nghĩa thì bị quy là équivoque, là thâm hiểm. (Có điều rất đáng nói là cùng
lúc đánh phá những bài thơ équivoque như thế, người ta lại không tiếc lời khen
những bài thơ hai nghĩa của Hồ Xuân Hương là “có tác dụng chống lễ giáo phong
kiến”!
Quả thật, chỉ với riêng một đoạn thơ có cái “bục công an” nói trên, bài thơ của
Lê Đạt đã buộc người ta phải đọc và phải nhớ, đây không chỉ vậy, hết bài thơ còn
một phần “tái bút” cũng dài ngang một bài thơ, trong đó có những đoạn như đoạn
này:
Ngày Phật Đản vừa rồi được nghỉ
Tôi đến nhà Văn Cao
Hai đứa rủ nhau
đi ăn thịt chó
Văn Cao vốn là người nể vợ
Ăn xong mua một gói về nhà
Tôi bỗng giật mình,
(nhưng không dám nói ra)
Người chủ xé thơ tôi
gói thịt
Ngay lúc đó tôi chỉ còn muốn chết
Như dại như điên tôi oán đất, oán trời.
Nhưng hôm nay tôi chỉ oán mình tôi
Thơ tôi bị cuộc đời ruồng bỏ
Vì tôi đã ngủ quên trong chế độ
Vẽ phấn bôi son, tô toàn màu đỏ
La liệt đầy đường hoa nở
chim kêu
Thế là Lê Đạt đã tranh thủ tấn công vào một xu hướng thịnh hành, có thể nói là
xu hướng chủ đạo của văn học (mà cả các bộ môn nghệ thuật khác cũng vậy) nước ta
thời ấy: xu hướng tô hồng, hay nói cho chính xác, xu hướng gọi là lãng mạn cách
mạng, tiêu chuẩn quan trọng nhất trong một tác phẩm được coi là có giá trị hiện
thực xã hội chủ nghĩa. Tội to quá. Bị đánh là phải.
Được 5 số thì báo Nhân văn chết đứ đừ. Cũng từ đây, từ nhân văn được coi như
đồng nghĩa với phản động. Còn từ giai phẩm thì hầu như không còn ai dùng đến.
Tuy nhiên, hình như vào khoảng đầu hoặc giữa năm 1957 gì đó, Lê Đạt còn viết một
bài thơ dài với cái tên ngộ nghĩnh: “Cửa hàng Lê Đạt”. Bài thơ chỉ được đánh máy
chứ không in ở báo nào. Đa số người đọc biết Lê Đạt có bài thơ này là nhờ có một
bài của Xuân Diệu đánh tơi bời trên tờ Tạp chí Văn nghệ. Mùa hè 1958, Lê Đạt còn
in được một tập Bài thơ trên ghế đá, mà Lê Đạt gọi là thơ về những thứ vulgaire
(thông tục, tầm thường, không có gì thi vị) ở đời. Có điều là tập thơ được in
nhưng không được phát hành.
Mùa thu 1958, với một cuộc chỉnh huấn đại quy mô, “bọn Nhân văn – Giai phẩm ra
trước tòa án dư luận”. Mọi chuyện thế là chấm dứt một cách êm thấm, có thể nói
là tốt đẹp. Sau cuộc chỉnh huấn là một đợt “đi thực tế” dài. Lê Đạt, Trần Dần,
Hoàng Cầm, Phùng Quán, Hữu Loan bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn. Còn ở trường đại
học, những cây đa cây đề bị bật gốc: Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức
Thảo, Đào Duy Anh…
Tôi còn nhớ như in một buổi chiều, sau giờ lên lớp, thầy Phan Ngọc, một giảng
viên quê xứ Nghệ, dạy chúng tôi môn Ngôn ngữ học đại cương, nói với lớp bằng
giọng nhỏ nhẹ:
“Bắt đầu từ hôm nay, tôi được trường cho nghỉ dạy để viết tự kiểm thảo.”
Thế là một mạch. Dẫu sao còn được nói mấy lời từ biệt. Còn các vị giáo sư nói
trên thì chẳng nói năng được gì. Mãi mãi không ai biết trường đại học Việt Nam
có một vị giáo sư khi mới 24 tuổi đã đỗ hai bằng tiến sĩ tại Đại học Sorbonne
danh giá của nước Pháp, một nhà triết học từng tranh luận với Jean Paul Sartre ở
Paris, một nhà sử học có trí nhớ thông kim bác cổ, một vị giáo sư có lối giảng
bài như lấy kiến thức ra từ từng ngăn kéo và hút hết hồn vía người ta. May lắm,
sau này hình như có người biết ở phố Hàng Gà Hà Nội có một ông thầy châm cứu
giỏi vào loại siêu, hình như ông ấy nguyên là một giáo sư văn học nổi tiếng…
Từ năm học 1958-1959, bọn chúng tôi lên học tận Cầu Giấy, cách Hà Nội 12 km,
giữa một vùng đồng không mông quạnh, phía bên kia đường là làng Vòng làm cốm,
cách về phía tây một đoạn nghĩa trang Mai Dịch, nơi chúng tôi thỉnh thoảng đến
lao động. Hầu như với toàn thầy mới toanh. Mỗi tuần, mong như mong mẹ về chợ,
đến chiều thứ bảy, Ký túc xá Cầu Giấy mở cửa, lũ sinh viên chúng tôi, hoặc đạp
xe, hoặc đi bộ, ù về Hà Nội một ngày, để tối hôm sau, trước lúc 9 giờ, phải có
mặt tại phòng ngủ.
Mỗi lần về Hà Nội, không hiểu sao cứ thấy buồn vô cùng. Hầu như chủ nhật nào tôi
cũng ghé qua nhà Lê Đạt rồi nhà Trần Dần, chẳng để làm gì, chẳng giúp ích được
gì, chỉ để gặp chị Thúy (vợ anh Đạt), chị Khuê (vợ anh Dần), biết rằng hai chị
vẫn yên ổn, hai cháu bé, cháu Nhiên và cháu Kha vẫn chơi.
Sài Gòn, tháng 2–2008
[1]Những câu thơ của Lê Đạt dẫn trong bài, người viết trích theo trí nhớ. Có gì
sai sót mong được thông cảm vì đã hơn 50 năm rồi.
Người "phu chữ" đã ra đi
Nguyễn Trọng Tạo
Tôi đang ngủ thì nghe điện thoại Nguyễn Đình Toán gọi, giọng hơi hoảng hốt: “Ông
Lê Đạt mất rồi, lúc 3h 15 sáng nay”. Tin “Ông Phu Chữ” mất quá đột ngột. Tối qua
ông vừa bay từ Tây Nguyên về Hà Nội. 10 giờ đêm ông trượt ngã ở nhà mình, đưa
ngay đến bệnh viện Việt Đức, các bác sĩ tập trung cấp cứu cho ông nhưng không
thể cứu nổi nhà thơ mà họ yêu quí. Vậy là Người Phu Chữ ấy đã ra đi, hưởng thọ
80 tuổi ta.
Ông tuổi Tỵ, sinh ngày 10.9.1929 tại bến Âu Lâu, Yên Bái, quê gốc xã Á Lữ, Bắc
Giang. Tham gia kháng chiến chống Pháp rồi trở thành một “nhân vật” của nhóm
Nhân Văn – Giai Phẩm. Nổi tiếng bằng những bài thơ hô hào cho một xã hội mới,
cũng đồng nghĩa với tinh thần làm mới thi ca nghệ thuật lúc bấy giờ. Suốt 30 năm
“vắng bóng” trên thi đàn, Lê Đạt đã trở lại trong thời kỳ Đổi Mới với nhiều bài
thơ, truyện ngắn và tiểu luận về thơ đầy ấn tượng. Ông đã cho xuất bản các tập
sách: Bài Thơ Trên Ghế Đá (chung với Vĩnh Mai, 1958), 36 Bài Thơ Tình (chung với
Dương Tường, 1990), Thơ Lê Đạt - Sao Mai (chung với Sao Mai, 1991), Bóng Chữ
(1994), Hèn Đại Nhân (1994), U75 từ tình (2007), Mi là người bình thường (2007),
và nhận giải thưởng Nhà Nước về VHNT năm 2006.
Trong những nhà thơ cùng trang lứa, Lê Đạt (cùng với Trần Dần) là nhà thơ vị chữ.
Ông đề cao tinh thần lao động chữ của nhà thơ đến mức ông gọi nhà thơ là “Phu
Chữ”. Phu hay cu-li cũng vậy, đều cực nhọc muôn phần. Ông ghét thứ thơ đơn nghĩa
và gọi nó là “thơ lộ thiên”. Vì vậy ông chủ trương đào sâu vào chữ để tìm ra
nhiều vỉa từ nhằm làm cho thơ đa nghĩa, cô đúc và sâu sắc. Và ông muốn những con
chữ ấy phải mang dấu ấn riêng của nhà thơ. Trong một bài tiểu luận viết cho báo
Thơ theo “đặt hàng” của tôi, ông đã nắn nót viết hai chữ tựa đề là “Vân Chữ”.
Ông nói “Vân chữ cũng quan trọng như vân tay ấy mà, có thể làm dấu ấn vào giấy
thông hành của nhà thơ”. Thời kỳ chín muồi của thơ ông chính là thời ông cho ra
mắt tập thơ Bóng Chữ gây xôn xao dư luận, khen chê “tóe lửa” trên văn đàn. Nhưng
sau tất cả những tranh luận về thơ ông, người ta thấy ông có lý. Vậy là sự tìm
kiếm sáng tạo mới của nhà thơ đã có tác động đến sự phát triển nền thơ của ta
những năm cuối thế kỷ XX.
Tôi gặp ông không nhiều, nhưng lần nào gặp cũng thấy ông cười rất sảng khoái.
Ông bảo ông có bệnh cười. Ngay cả trong cuộc họp nghe ai đó phát biểu sai về
mình là tự nhiên ông bật cười phá lên. Vì thế mà hồi Nhân Văn Giai Phẩm, có
người cho ông là ngông. Nhưng thực ra cái tính ông thế. Năm ngoái tôi đưa mấy
nhà thơ hải ngoại đến Phó Đức Chính thăm và phỏng vấn ông, thì cứ sau mỗi câu
hỏi là ông lại cười. Ông cười thoải mái rồi mới trả lời. Có ý gì mạnh, ông cũng
cười, khiến mọi việc đều nhẹ nhàng, thoải mái. Nhưng những điều ông nghĩ, ông
nói thì vô cùng nghiêm túc và sâu sắc.
Tôi là người thế hệ sau, nhưng khi trò chuyện với ông hình như không có khoảng
cách. Ông chú ý đọc kỹ từng nhà thơ lớp sau, và yêu mến những gì ông thích. Đấy
là tính bình đẳng của một nhà thơ luôn đi tìm cái Mới. Nhớ lần tôi ghi tặng ông
tập thơ Đồng Dao Cho Người Lớn, nhà thơ Võ Thanh An bảo tôi: “Mày ghi tặng Sư
Phụ đi”, nhưng ông cười rất vui: “Tớ với Tạo là Thi Hữu thôi”, nhưng tôi đã ghi
“Quý tặng Thi Huynh Lê Đạt”, và ông rất vui. Chỉ một chi tiết nhỏ ấy khiến tôi
rất ấn tượng và yêu quí ông hơn.
Vâng, một nhà thơ mà cuộc đời đầy sóng gió như Lê Đạt, mà vẫn kiên trì đi tới
đích, cũng không phải dễ hiểu với nhiều người. Tôi nghĩ đơn giản là vì ông có
niềm tin vào cái Đẹp mà thơ ông luôn hướng tới. Chỉ có khám phá, sáng tạo đúng
lương tâm của mình, đúng cách riêng của mình, đúng tài năng của mình thì ông sẽ
gặt được niềm vui chính thơ ca mang lại. Vì thế mà khi nghe tin ông đột ngột qua
đời, những câu thơ rất đẹp, rất Lê Đạt cứ vang vọng trong trí nhớ của tôi:
Em về trắng đầy cong khung nhớ
Mưa mấy mùa
mây mấy độ thu
Vườn thức một mùi hoa đi vắng
Em vẫn đây mà em ở đâu
Chiều Âu Lâu
bóng chữ động chân cầu.
Và giờ đây người Phu Chữ Lê Đạt đã ra đi, nhưng ông vẫn còn đó trong Bóng Chữ
của chính ông.
21.4.2008

|
Nhã Thuyên |
|
NỖI BỒN CHỒN LÊ ĐẠT |
|
|

Thủ bút của Lê Đạt (sưu tập của Minh Đăng)
Lê Đạt trong tôi trước hết là một nhà thơ thân thiện. Thân thiện với môi trường
- người, đã đành, nụ cười của ông đã nhiều giai thoại, nhưng hơn hết là thân
thiện với môi trường - chữ. Không chỉ bởi cách ông lựa chọn đoản ngôn hay haikâu
để chống lãng phí chữ hay thực hiện mùa khem, mà quan trọng hơn là bởi, tôi cảm
nhận, chữ nghĩa của ông hầu như không, hay rất ít khi, hục hặc gây sự lẫn nhau.
1
Thơ Lê Đạt như một ngôi nhà luôn rộng cửa cho gió, cho những vị khách vô hình,
cho những bước chân vô ý, cho cả sự thanh vắng trống không gõ cửa. Thơ Lê Đạt
thường không tự đến với tôi mỗi khi tôi tha thiết một an ủi thơ ca. Nhưng khi đủ
thư thả cho một thưởng ngoạn, đủ lặng lẽ cho một sự dạo chơi quạnh vắng, đủ điềm
tĩnh cho một ngẫm ngợi riêng lẻ thì tôi có thể tự tìm đến thơ ông, như tìm đến
một chốn thanh thơi xanh mát chữ nghĩa:
Nắng tạnh heo mày hoa lạnh
Mimoza chiều khép cánh mi môi xa
(Mimoza
– Bóng chữ)
Cả khi thơ ông làm tôi thoáng rùng mình ớn lạnh, thì bù lại, cái cảm giác thơ bé
gọi về, buổi đêm một mình qua nghĩa trang, vừa đi vừa run vừa hát trong gió rười
rượi cũng có thể trở thành một sự thưởng thức:
Một mình huýt gió nghĩa trang khuya (Thương
- U75 Từ tình)
Sự hiện diện như đợi chờ [người đọc] thưởng thức, với tôi, làm nên cái đẹp của
thơ Lê Đạt. Một cái đẹp đồng thời là cái đẹp đạo đức, hay nói khác đi, ông dường
như ý thức nghiêm ngặt về đạo đức của sự lựa chọn mĩ học.
|
Lê Đạt tên
thật là Đào Công Đạt, sinh ngày 10/9/1929, mất ngày 21/4/2008, quê ở Á Lữ,
Bắc Giang. Ông tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm vào những năm 50 rồi
vắng bóng trên văn đàn suốt hơn 30 năm.
Đã xuất bản:
- Bài thơ trên ghế đá (1957)
- Cửa biển (In chung với Văn Cao, Trần Dần, Hoàng Cầm, 1958)
- 36 Bài Thơ Tình (chung với Dương Tường, 1989)
- Trường ca Bác (thơ) (1990)
- Thơ Lê Đạt - Sao Mai (chung với Sao Mai, 1991)
- Bóng chữ (Thơ, 1994) và Hèn Đại Nhân (Tập truyện ngắn, 1994).
- Ngó lời (thơ, 1997)
- Từ tình Epphen (Thơ, 1998)
- Mimoza (Thơ, 2006)
- Truyện cổ viết lại (Tập truyện ngắn, in chung với Lê Minh Hà, 2006)
- Mi là người bình thường (tập truyện ngắn, 2007)
- U75 Từ tình (thơ và đoản ngôn, 2007).
- Lê Đạt, Đối thoại với đời và thơ (2008)
- Lê Đạt, Đường Chữ (2009)
Năm 2007, cùng với Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm, ông được tặng Giải
thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật. |
Hệ lụy của cái đẹp đạo đức là nó có thể ngăn trở lòng đồng cảm. Tôi hiểu khả
năng khơi cảm của thơ ca không tách rời việc xác lập và trình diễn các quan hệ
tương tác lẫn nhau: quan hệ của thi sĩ với thơ ca của họ, của thơ ca với người
đọc. Sự chung sống của thi sĩ với thơ hiện diện trước chúng ta ra sao? Ta cảm
nhận sự hiện diện đó như thế nào? Tôi không nghĩ Lê Đạt ít độc giả, nhưng tôi
không hình dung người ta dễ dàng bị thơ Lê Đạt làm cho choáng ngợp hay ngây ngất.
Ít nhất với tôi: suốt nhiều năm, tôi chưa bao giờ nghĩ mình yêu thơ Lê Đạt, như
một “nhà thơ của tôi”, và vẫn cứ đinh ninh rằng, sự đồng cảm xôn xao lúc đây lúc
đó mà tôi dành cho thơ ông chỉ là sự xôn xao của tôi khi chạm vào thơ ca nói
chung, khi thưởng thức một cái đẹp “má má môi mà mỗi mỗi xa” mà thôi. Các nhà
thơ giãi bày và các thi sĩ phất cờ tiền phong có thể dễ quyến rũ ta hơn. Ở Lê
Đạt, sự trình diễn cái tôi thi sĩ dường như cứ muốn giấu mãi giấu mãi sau con
chữ và nhà thơ dường như cam kết chung tình với lựa chọn đó. Người đọc đi tìm
thơ hầu như khó gặp người. Đôi khi đọc Lê Đạt, tôi cứ như lạc vào một cõi Đường
thi hiện đại, dẫu không có mây dày thăm thẳm tứ bề, không có vị thiền sư đắc đạo
nào thì người thơ vẫn cứ ở đâu đó lơ lắc. Một thứ thơ phi-tôi? Đúng hơn, tôi
tưởng tượng, Lê Đạt tự mình lặn dần trong sự chơi với chữ, nơi quá trình phi-tôi
diễn ra không cần xúc tác, chỉ cần sự thí nghiệm công phu và nặng tình: cảm xúc
khởi sinh bài thơ có thể cứ được lọc đi lọc lại qua những thí nghiệm chữ kì khu
và dần bay hết những sắc màu trần thế, rút cục đồng nhất làm một với con chữ
trong dạng thức tinh khiết, kết đọng nhất. Cái tôi Lê Đạt trong những bài thơ,
do đó, có thể là một cái tôi đã được edit liên tục, được thanh lọc, ở độ kĩ
lưỡng đôi khi đến hoàn hảo và trong vắt đến mức hầu như người đọc khó có cơ may
được diện kiến sự xù xì thô tháp (thuở ban đầu, nếu có) của nó. Làm thơ, với Lê
Đạt dường như là một quá trình thanh-lọc chữ liên tục, một cuộc thí nghiệm kiên
nhẫn và đam mê như người mài đá đã nhìn thấy vẻ ngọc thấp thoáng ngay kia.
Tuổi lú lẫn ngược nhầm ga trẻ dại
Hay u ơ quên mất lối về già
Tha thẩn chữ ngã ba
(Lú lẫn - U75-từ tình)
2
Tôi vẫn nghĩ rằng, cách Lê Đạt tự họa chân dung mình, khá rõ ràng trong các tiểu
luận, các phát biểu về thơ, như một phu chữ, một kẻ chống tài tử, một kẻ cam kết
gắn mình với (việc dụng) chữ dễ bị hiểu lầm, thậm chí làm những người đọc ưa dạo
chơi lang bang ái ngại: ông hẳn là nặng nhọc, thực tế và đặc tuyển. Nhưng chưa
biết chừng, Lê Đạt lại chỉ đơn giản là một kẻ mộng, đã sinh ra chính từ những
cơn mộng chữ của mình: những con chữ ủ, ấp, sinh, thành không nghỉ, tạo thành
một “lối bìa da mộng phủ”. “Bóng chữ” là phần chập chờn tỉnh mê của cơn mộng
đang say ấy: “Bóng chữ có thể coi là phần tiền kiếp không được hóa giải của chữ.
Nó như bóng con thuyền Trương Chi thiếu nợ hò khoan mãi lòng chén nước Mỵ Nương”
(“Vân chữ”). Lụy tình chữ, cho nên, như lời Lê Đạt, “hành trình vô dụng lần tìm
vô thức thông qua việc giải phóng ngôn ngữ” có thể được hiểu như một cuộc chơi
nghiêm túc lần tìm những tiền kiếp của chữ.
Lần tìm cơ chế sinh sôi chữ-nghĩa, hay cách tạo “bóng chữ” của Lê Đạt, tôi không
thấy những cuộc đụng độ bùng nổ giữa các chữ, kiểu như đôi khi va phải chữ Trần
Dần. Hầu như là những va chạm chủ ý hòa bình, cộng hưởng chứ không phá hoại nhau.
Sự cộng hưởng này làm suy yếu hay thậm chí triệt tiêu khả năng quy chiếu tới sự
vật đồng thời thăm dò năng lượng mở nghĩa của ngôn ngữ thơ. Câu thơ Lê Đạt do đó,
có thể sống những đời hư cấu tự do trong mỗi người đọc nó. Thực tế nó cũng từ
chối tương thích với cách đọc diễn giải và quy về hình dung rõ nghĩa. Những nỗ
lực cắt - ghép nghĩa thơ ông, nỗ lực phân tích các thi pháp, thủ pháp câu từ Lê
Đạt luôn đồng thời phô ra giới hạn của diễn đạt, của “kinh nghiệm văn xuôi”, của
thi ca diễn nghĩa. Sự viết phi quy chiếu, thậm chí đôi khi như thể chỉ bày những
vật thể “tự nó” của Lê Đạt có thể làm nảy nở những tưởng tượng và niềm đam mê
tưởng tượng bất tận.
Người đẹp lẩn khe hai dòng chữ tối
Thủ thư mù
lần lẻ một lối mê
(Borges
– Ngó lời)
Có khoảnh khắc đọc thơ may mắn, tôi hân hưởng cảm giác nôn nao say chữ. Đó là
khi tôi đọc được nỗi bồn chồn Lê Đạt. Là lúc Lê Đạt dường buông chứ không thắt,
tài tử hơn là thợ thồ. Bồn chồn nhất là những bài tình, nhưng đúng hơn, là những
tình chữ bồn chồn. Cái dục tình nồng nàn trong thơ Lê Đạt khó mà phân biệt được
là tình trai gái hay tình chữ, khó mà phân biệt tình trai gái làm nên chữ hay
ngược lại.
Anh đến mùa thu nhà em
Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ
Mà cho đấy rửa lông mày
Nông nỗi heo may từ đó
Mưa đêm tuổi nổi ao đầy
Đường cốm đồi thon ngõ nhỏ
Bướm lượn bay hoa ngày
Tin phấn vàng hay thuở gió
Tóc em hong mùi ca dao
Thu rất em
và xanh rất cao
(Thu
nhà em – Bóng chữ)
Bài “Thu nhà em” này, với tôi, không chỉ là một bức tranh trừu tượng đẹp lạ lùng,
mà còn là một bài tình chữ nôn nao.
Nắng rũ áo mộng đò neo bến nhổ
Lá bỏ cành trời rứt én xanh lìa cây
Chiều ngậm mãi một nỗi chim rời tổ
Ga Vọng
thu khuya ai xổ một hồi còi
(Anh
ở lại – Bóng chữ)
Tôi không muốn lạm dụng cảm xúc của mình khi đọc thơ, mà vẫn đau nỗi lá lìa cành,
thấy màu xanh rớt từng hột phiêu bồng trước mặt, thấy chữ nghĩa liên tục bị biến
dạng bởi ánh sáng đổi chiều hay chao đảo khi gió xoay hướng…
Có nhiều khi tôi thấy rõ: Lê Đạt trìu mến ngôn ngữ hơn là trìu mến người yêu.
Trú ngụ trong thiên nhiên và chữ nghĩa, cả anh, cả em dường như quen nết Đào
Nguyên mà quên nỗi bận bịu con người. Vẫn có gì nơi tình yêu đi vắng mãi. Cũng
bởi thế đôi khi tôi xa cách. Thậm chí hơi khó chịu. Và tôi hoài nghi: tôi không
tin một thứ tình quá chừng đinh ninh và ít thương tổn. Lê Đạt có dỗi hờn, cũng
là dỗi hờn với chữ “Chữ nhất tâm nghĩa lại nhị tình”. Và thi sĩ thì ngoan cố,
không phải với tình yêu, mà với cách yêu của mình, một sự lạc quan ngoan cố:
Ngoan cố thất tình xuân vẫn mải
Khờ biết bao giờ hết dại yêu
(Dại
yêu- U75 Từ tình)
Cũng bởi cái ngoan cố ấy, dường như Lê Đạt không phải tạng người du mục. Ông lúc
nào cũng mải mê canh tác vùng đất của mình, chăm bẵm miệt mài thứ đặc sản mà ông
đã tìm thấy hạt giống trên hoang đảo. Và bởi vì lựa chọn gieo trồng chỉ một thứ
đặc sản, kiên định, nhiệt thành, bất chấp, nên cả khi đã được “chính thống hóa”,
truyền tụng rộng rãi, thứ thơ đặc sản của ông vẫn cứ kén chọn người thưởng thức.
Cũng nhiều khi, ngoan cố một hành trình chủ động chơi với chữ nghĩa, nên chữ của
Lê Đạt ít có cơ hội cợt đùa phản trắc lại người thơ. Tôi đã xem bản thảo viết
tay của ông, những chữ (có lẽ chực phản trắc) đã bị gạch xóa, bôi đen, tôi băn
khoăn không biết chúng sẽ tái sinh nơi nào. Không ít bài thơ tình của ông, những
sự kĩ lưỡng quá mức làm cái nông nỗi bồn chồn dường như cũng “tự kiểm soát” khắt
khe hơn.
3
Làm sao tôi thoát được việc đọc thơ tìm người? Làm sao tôi thoát được nỗi băn
khoăn về “kiếp nhân văn” khi đọc thơ Lê Đạt?
Lê Đạt của “36 Bài tình”, in chung với Dương Tường, của “Lê Đạt - Sao Mai”, in
chung với Sao Mai, thậm chí của “Bóng chữ”, “Ngó lời” chủ yếu là một Lê Đạt “phi
chính trị”. Tôi hình dung, đó có thể là một cách giữ mình. Tôi tưởng tượng những
cuộc nói chuyện riêng tư, rì rào, nôn nao, bất tận của những lá vàng, những đèo
nắng, của những tiếng chim dị hình, của gió mưa, của sương... từ chỗ như một
niềm an ủi nương náu đã trở thành bạn đồng hành thân thiết và luôn trìu mến
người thơ suốt một chặng đường dài.
Trang vắng mưa đêm về sớm
Heo may rải đồng giấy non
Anh vực tay em
Be bé nét đòng
Ai có biết lòng mẫu tự?
(Thuở
đầu dòng - Bóng chữ)
Tâm thái phi chính trị nơi Lê Đạt, gắn với thời điểm chiến tranh, dường như là
một lựa chọn kiên định đứng về phía thơ ca. Lê Đạt viết về Trường Sơn, tôi không
khỏi nghĩ tới một đứa bé nhìn đoàn xe:
Bom bi bom bi
Bom bi
Bi bom
Xe đi
Xe đi
Cầu mở phao sông
Phà à à sóng
Bom bi
bi bom
Xe đi
xe đi
Bom bom
bom bom
Dáng xoan một con
(Trường
Sơn – Lê Đạt - Sao Mai)
Thơ về chiến tranh của Lê Đạt mang ít nhiều bi kịch của người cảm nhận được nỗi
tan nát của cái đẹp, chỉ có thể được viết với tâm thế của kẻ ít nhiều (bị) đứng
ngoài, tách bạch với những yêu cầu tuyên truyền cho cuộc chiến:
Hầm cỏ Nguyễn Du
trời tên lửa
Bia hồ liêu liễu mới Đường thi
(Hà
Nội B.52 - Bóng chữ)
Hình dung tâm thế “phi chính trị” xuyên suốt trong thơ Lê Đạt, tôi lại thấy bớt
khó chịu với từ “tuyên truyền”: hẳn là ít hay nhiều chúng ta đã tự/bị tuyên
truyền. “Trường ca Bác” của Lê Đạt hẳn là một bài thơ tuyên truyền có chủ ý, có
thể là lần duy nhất của đời thơ ông (?): trong lời bạt, Khương Hữu Dụng viết “Lê
Đạt viết bài trường ca từ sau ngày Bác mất (1969) cho đến tháng 5/1970 để kịp
giỗ đầu Bác trong hoàn cảnh hết sức khó khăn về tinh thần và gian truân về vật
chất”. Lời bạt viết năm 1989, cuốn sách ra đời năm 1990, ngủ hai mươi năm mới
dậy, một bản thơ tuyên truyền ca ngợi Hồ Chí Minh vẫn có thể mang số phận “một
bản trường ca lận đận”. Tôi không biết có bí mật lịch sử nào lẩn khuất quanh tập
thơ này, nhưng sự ra đời lận đận của nó tôi nghĩ cần được tính đến để nhìn cả
hành trình thơ Lê Đạt.
Vì bị đẩy ra ngoài lề, Lê Đạt đã có cơ may “phi chính trị” với các vấn đề thời
sự, nhưng còn quá khứ Nhân Văn? Có người nói Lê Đạt “quên” vì nhìn bề ngoài,
dường như thơ Lê Đạt không đeo mang số phận đời Lê Đạt, ngoài những đường nối
mỏng manh. Nụ cười bất chấp của “ông Di Lặc” có thể gây khó hiểu, bởi nó không
vừa với diễn giải thông thường của chúng ta về một kẻ chịu nạn. Hay thơ Lê Đạt
đã tự tạo nên một số phận khác của ông? Mà cả khi cho rằng thơ và đời là chuyện
tách bạch, có thể chúng ta vẫn không hết ngạc nhiên: chữ-nghĩa có ái lực đến thế
nào để cái số phận đời mà ta tưởng phải trùm phủ thơ ca, rút cục lại như thể nằm
ngoài thơ ca, hay chỉ còn là cái bóng vương vất như một trận gió xám xòa qua
không đủ làm xạm mặt người? Ở điểm này, tôi muốn đề xuất một biện minh cho thơ.
Dẫu không mang định kiến về sự đọa đày trong đời phải hằn khắc trong thơ, tôi
không nghĩ ông xem khinh trọng lượng của bất hạnh. Ai dám chắc mình hiểu được
gánh nặng của kẻ tự mang? Dấu vết những tháng ngày Nhân Văn còn xót đắng ẩn
trong chữ.
Vườn nắng mắt gió bay mùa hoa cải
Bóng lá răm ngày Phả Lại đắng cay
(Phả
Lại – Ngó lời)
Tôi không biết có cần phải hiểu đời Lê Đạt để hiểu những câu thơ này và nhiều
câu thơ “Lão Núi”. Tôi không biết nếu tôi hiểu biết ít nhiều về đời Lê Đạt thì
việc nhìn thơ ông sẽ rộng rãi hơn hay sẽ hẹp hòi đi. Người ta có thể minh oan,
minh bạch tiểu sử một con người, nhưng chữ nghĩa thì vẫn còn lại đó, không thể
minh oan hay tự giải oan, ngoài việc đợi chờ người đọc tìm đến. Mà người đọc thì,
tôi cảm thấy, thường dễ rộng lượng với lỗi lầm lịch sử mà ít kiên nhẫn rộng
lượng với thơ ca. Sự đọc và đọc lại lịch sử, hành xử của con người và sự đọc lại
thơ ca dường như đòi hỏi những liều lượng nghiêm khắc hay rộng rãi không thể
đánh đồng, mà ta lại thật dễ đánh đồng. Dẫu thế nào, thơ ca vẫn phải tự nhận về
mình sự tổn thương riêng lẻ của nó chăng?
Mọi tham vọng diễn giải một cách khái quát về lịch sử thường không động tới được,
hay luôn xét đoán vội vàng lịch sử của một cá nhân, nơi những điều nhỏ bé mới là
thiết yếu. Chúng ta không có cơ hội đọc một hồi kí Nhân Văn của Lê Đạt, nhưng
trước hết, ông đã chọn một cách giải trình đẹp, một lựa chọn mà người đọc thơ
khó có thể nào đành lòng phán xét, bởi nó có cái lí – tình không bao giờ có thể
thấu suốt, minh giải. Tôi không nghĩ rằng nó không chứa nhiều thương tổn, nhưng
cũng như quá trình thanh lọc chữ, đó có thể là kết quả một hành trình tu tâm và
dưỡng chữ mà đôi khi, cái hiện diện trước mắt ta dường như chặn đường mọi giải
mã, vì nó đã hủy quy chiếu.
Tim gió táp mảnh thuyền thương sóng rạt
Phơi tình ven vạt cát giải trình trăng
(Giải
trình - U75 Từ tình)
4
Ai cũng có thể làm thơ. Nhưng dường như người ta phải lựa chọn để làm nhà thơ.
Ai cũng có thể đọc thơ. Nhưng dường như phải đến lúc nào đó, ta mới bị vướng víu
bởi một nhà thơ. Tôi có ý hướng tuyên truyền cho việc đọc thơ như là một gặp gỡ
làm ta ngẫm ngợi, một giao tiếp hết mực riêng tư, một va chạm phần nhiều không
chủ ý. Nó nằm ngoài những phán xét hay dở, những xếp loại nhất nhì. Người ta
không ai biết mình lúc nào yêu hay ghét bỏ thơ, và không ai biết lúc nào thơ bỏ
ta.
Thư đài lửa nước sông Hồng buông mát
Chữ tro bềnh tình siêu thoát nổi chăng
(Siêu
thóat - Ngó lời)
Lê Đạt có nhiều fan chìm nổi, tôi không có ý tranh quyền tỏ lòng yêu của những
bạn đọc thực sự đã yêu ông, những người lưu giữ bản thảo thơ, chép tay những bản
thơ ông đánh mất. Nhờ một cơ may run rủi mà tôi có dịp ngồi đọc và đọc lại phần
nào Lê Đạt, sau rất nhiều năm thờ ơ. Tôi biết mình không thuộc vào những người
trẻ làm thơ cứ đeo đẳng gánh nặng của những cái bóng lớn trong quá khứ, cũng
không bị ám ảnh bởi quá khứ những thi sĩ ấy đã đeo mang. Nhưng lúc này, tôi cảm
kích lựa chọn của ông: một lựa chọn khó có thể so đo sự thiệt thòi phần đời khi
lầm lũi khai quang nẻo vắng của thơ, thậm chí tôi nghĩ, một người duy mĩ như ông
đã vì cái đẹp của thơ mà chấp nhận trả giá, chấp nhận cả những điều tiếng không
đẹp.
Có những lúc, một câu thơ nào đó chợt đến, khi lòng tĩnh vắng, khi nỗi bồn chồn
của tình yêu hay sự thất tình đã được lọc và lắng xuống, để chỉ còn là vẻ đẹp
hơn là nỗi đau, là trìu mến hơn là nôn nao đòi hỏi, là cô quạnh bình yên hơn là
chuếnh choáng say, khi đó tôi có thể nằm dưới gốc thông mà đùa chơi với việc
minh bạch hay diễn xuôi Lê Đạt:
Không tận xanh thơ thở trắng trời
(Lý
Bạch - Bóng chữ)
Những bài thơ sổ bụi đã an nhiên thở mấy chục năm, có lúc người đọc vô tâm tưởng
đã không còn (phải) vướng bận cả nỗi đau cát bụi.
|
Nhận ra
tôi
chỉ gốc cây gạo cụt
Tạm ứng nửa trời hoa trước đón nhau
(Thuở
xanh hai)
Thế kỷ đinh ninh tình cặp bến
Ghé nhầm một điểm đến trùng tên
(Cặp
bến)
Những người xưa bóng hoa thường trở lại
Hương khuya huyền thoại truyện trăng thề
(Người
xưa)
Bạc đầu mải đăm chiêu tự vị
Chữ nhất tâm nghĩa lại nhị tình
(Tự vị)
Cổ nhân lạnh, nhu cầu đối thoại hơn sùng bái, một hiện tượng khác của độc
thoại […]
(Đối
thoại)
Tôi trọng những nhà thơ sinh sự với văn phạm để tạo ra sự sinh của ngôn
ngữ.
(Văn
phạm)
Hiền tài, hay “hỗn” tài đều là nguyên khí quốc gia. Các nghệ sĩ nòi đều ít
nhiều dính một trọng tội: Tội kháng chỉ.
(Hiền
tài)
Thơ hay bao giờ cũng có tiếng thầm thì: đó là tiếng gọi nhau của chữ.
(Thầm
thì)
Cái nguy hại nhất của sự độc đoán không chỉ ở chỗ cấm nói mà ở chỗ buộc
mọi người phải nói theo một kiểu đã định sẵn. Thời trang của nó là đồng
phục.
(Đồng
phục)
Một câu ngạn ngữ Phi Châu đáng nhớ: Một ông già chết đi là một thư viện bị
cháy.
(Thư
viện bị cháy)
Tâm phân học có một nhận xét hết sức cơ bản: Con người là một động vật tâm
thần chung thân nhu cầu sự trìu mến.
(Tâm
phân học)
|
|
|
|
|
|
|
|
Lê Đạt
tư duy về thơ
Trần Thiện Khanh
Người thơ ấy đã thiên di về một miền xa xôi và vĩnh cửu, sau mọi nỗ
lực cách tân thơ và chủ trương tự do cho văn học. Thành bại đến đâu và vì sao…
chỉ có lịch sử mới thấu hiểu và trả lời một cách công minh nhất. Tôi – kẻ hậu
sinh trộm biết Lê Đạt chẳng thể nào thoát được kiếp văn nhân. Ngay từ thuở ông
“biết nghĩ”, biết viết thơ, thân hữu của ông đã thấy ở ông lộ ra những dấu hiệu
của bi kịch.
Lê Đạt từng ví thi phận mình giống với đời cô Kiều bị “ma đưa lối quỷ
dẫn đường” nên bỗng đâu “lại tìm những lối đoạn trường mà đi”. Chẳng phải ngẫu
nhiên, ông sắm vai “kẻ cu li”, nhọc lòng khai thông mạch chữ. Và có lẽ bây giờ
ông đang “cõng chữ lên non”. Mong rằng trên non cao ấy, vào giây phút hạnh ngộ
với chúa trời, sẽ có một làn gió ập đến thổi bay đi “mặc cảm tội lỗi” ở ông. Tôi
tin được vậy, thì ông thanh thản lắm. Thanh thản để can đảm sống tiếp kiếp phù
sinh khác.
Chiều
Âu Lâu
bóng chữ động chân cầu
Bản thân Lê Đạt được nuôi dưỡng bằng bầu không khí hào hứng tái
sinh văn nghệ. Cho nên, thơ Lê Đạt đến giờ, lại có dịp may thức giấc, khe khẽ
thì thào, sau một đêm dài ngỡ chỉ còn xác chữ. Tự Lê Đạt mua oán chuốc sầu, thì
trách làm chi cái công vớt lấp muộn mằn của người năm đó. Bâng khuâng lạc vào
“bóng chữ” của ông [1] .
Lê Đạt từng nói: trong các môn nghệ thuật, có lẽ “thơ chịu nhiều
hiểu lầm hơn cả”. Mối nghi ngờ số phận hẩm hiu của thơ ở Lê Đạt có nguyên nhân
sâu xa từ nỗi ám ảnh nhân sinh. Tôi đoán ông thừa biết cách viết tế nhị để diễn
tả cho hay bi kịch của con chữ. Song ông không làm thế, vì e mình tước mất đời
sống bí mật, phong phú của phát ngôn thơ. Lê Đạt thường sử dụng thủ pháp lạ hoá
từ, lạ hoá tiếng nói quen thuộc. Nhiều đoạn thơ, nhiều bài thơ nhạc tính khá ấn
tượng.
Cô
gái trộm hái sen
về ủ tuổi
Lỏng khuy cài
gió cởi
một dòng hương
Ngực dự hương đêm thơm mùi tuổi
chín
Mắt lá tre đằng ngâm mộng ba
giăng
Mảnh đất thơ của Lê Đạt không thật rộng [2] , nhưng ở đó ẩn giấu cả
một quặng nghĩa. Lê Đạt không vơ vào thơ tất cả xương cốt của chữ, tức xác chữ.
Ông lấy cái hồn của chữ, cái bóng sáng của chữ để làm nên giá trị cho câu thơ,
bài thơ. Những bước gập gềnh của câu chữ trong thơ Lê Đạt có gì đó gần với thăng
trầm của đời ông. Lê Đạt bảo: Thơ trẻ còn nhiều lời mà nghĩa lại lộ thiên.
Lê Đạt từng phê phán những nhà thơ biến sáng tác của mình thành một
hoạt động thần bí. Nhưng ông lại rất tinh khi nhìn thấy sau cái phẩy bút thành
thơ của thi nhân đời Đường một sự lao động cực nhọc. Mọi nhà thơ trước lúc trở
thành cây đại thụ trên thi đàn, họ đều làm phu chữ. Lê Đạt tạo ra chữ, cốt sao
cho nó sống được. Chữ sống thì nó sẽ sản sinh ra ý nghĩa, tư tưởng.
Thơ Lê Đạt nặng nợ đời. Tâm tính ông không phù hợp với loại người chỉ
đợi chờ ông trời ban cho cảm hứng. Ông nhấn mạnh: viết theo hứng thì thường đổ
chữ ào ạt lên khuôn giấy. Chưa bao giờ Lê Đạt ưa hạng độc giả mà ngoài ca tụng
khả năng ngoại cảm của người sáng tạo thì không còn hay biết gì nữa. Theo Lê
Đạt, cuộc phiêu lưu của nhiều nhà lí luận về miền thơ cũng rơi vào tình trạng
tuyệt mù ấy. Ông khăng khăng bảo cả nhà lí luận và nhà thơ tầm bậc trung đều đã
từng mắc tội đối với thơ ca.
Trong bài viết “Nghiệp thơ”, Lê Đạt bày tỏ thẳng thắn suy nghĩ của
mình: “Theo tôi thơ là một nghề. Đã là một nghề thì phải có kỷ luật lao động.
Không nên thụ động thắp hương chờ mà phải chủ động gọi hứng đến. Công việc này
đòi hỏi một kỷ luật nghiệt ngã và gian khổ.” Vậy ra, Lê Đạt đề cao sự viết, sự
năng động của chủ thể trong sáng tạo ngôn từ. Ông xem, mỗi nhà thơ phải đề ra
cho mình một mô hình sáng tạo, một nguyên tắc tổ chức tác phẩm. Hơn nữa, phải
kiên trì theo đuổi lối viết ấy mới hòng tạo dựng được phong cách cá nhân. Người
viết, nếu không khắt khe với chính mình, không trọng con chữ, thì chẳng những dễ
thất nghiệp mà còn yểu mệnh.
Lê Đạt chọn điểm rơi cho từ ngữ một cách tài hoa. Ông chơi chữ, nghịch
chữ và tạo cho thơ mình một điệu nhạc riêng, một “thiên lí chữ” không dễ lặp
lại. Nếu chẳng phải người kiên trì ngậm ngải tìm chữ, Lê Đạt chẳng thể nào tạo
ra được những hình ảnh thơ độc đáo nhường này:
Cây
gạo già
lơi tình
lên hiệu đỏ
La lả cành
cởi thắm
để hoa bay
Bước đệm
đưa tình
xanh khúc phố
Nốt chân xuân
đàn cò lạ
phím lùa
Với Lê Đạt, lao động thơ rất khổ ải. Chỉ ngay việc ngày ngày nhà thơ
tìm tòi chữ nghĩa, viết ra rồi xoá bỏ biết bao nhiêu lần cũng đủ thấy nhà thơ
cực nhọc lắm mới có câu hay, từ đắt. Cái thú trong quan niệm của Lê Đạt ở chỗ:
ông xem những từ ngữ do nhà thơ ngậm đắng nuốt cay, bạc đầu khổ luyện mới có
được đều ẩn giấu một nền tảng văn hoá nhất định. Thước đo tài năng nằm ở khả
năng tìm được các câu chữ lấp lánh văn hoá tư tưởng, chứ không phải ở sự viết
nhanh, viết nhiều: “Tôi không thích những thần đồng. Tôi yêu những người lao
động có tri thức, một nắng hai sương trên cánh đồng chữ”. Đây “bông chữ” mà nhà
thơ Lê Đạt đem từ cánh đồng về:
Nhớ
liễu hồ
tới nhờ em xõa tóc
Em vắng nhà
bồ kết chửa đi xa
Cầu nước chảy
bóng chiều xuân tha thướt
Xanh Thanh minh em thổi liễu vô
hình
Lúa con gái
lam rùng rình nỗi gió
Lá hát tình
nắng tỏ
bạch đàn chanh
Nợ cũ khối xương rồng hoa trả
đỏ
Hương thắp gọi ba lần
không đáp lửa
Hồn có nhà
hay bát mộ đi xanh
Có thể gọi Lê Đạt – người phu chữ; lại có thể ví ông với Thái Công
vọng [3] . Thái Công vọng còn gọi Khương Tử Nha – sống ở giai đoạn lịch sử cuối
nhà Thương, đầu nhà Chu ở Trung Quốc. Tử Nha sinh ra chỉ đề phò Cơ Xương chống
lại Trụ vương. Còn Lê Đạt không phò cá nhân nào hết. Ông chỉ biết tới câu chữ.
Ông bị giời đày xuống trần vào đúng thời kì thơ tiền chiến lùi lại nhường chiếu
thơ cho “thế hệ sau” [4] . Ông hăng hái lãnh vác sứ mạng phò câu phò chữ khi
chúng đang bơ vơ. Lê Đạt ngồi câu trên dòng sông chữ ngần ấy trời năm bằng cây
bút thẳng đứng của mình. Người ta thấy Lê Đạt và một số khác khi xuất hiện thì
chẳng khác gì một điềm quái trong văn học.
Theo Lê Đạt có hai phẩm chất đáng quí, hai kinh nghiệm hay: đọc
sách và tích lũy chất liệu thơ hàng ngày. Nhà thơ phải luôn luôn có ý thức về
nghề nghiệp. Chừng nào người viết thơ thấu sự khó khăn của nghề chữ, biết luyện
chữ, dùng chữ một cách tinh thông, thì chừng đó mới được câu chữ bầu cử làm nhà
thơ đích thực. Mọi nhà thơ tồn tại cùng đời sống con chữ của họ. Trường hợp nào
tự phong hoặc được sắc phong, bổ nhiệm làm nhà thơ đều vô nghĩa và chóng về hưu
nhất. Có lẽ, vì sớm thức nhận và thấm thía sự đày ải của nghề chữ, nên Lê Đạt
mới thông cảm được “với hoàn cảnh khó khăn của các nhà thơ trẻ” và “niềm nở ân
cần đối với họ”. Ông viết “Phải thương yêu, giúp đỡ họ (tôi rất ghét từ nâng đỡ)
chỉ rõ những ưu điểm, khuyết điểm cụ thể với một thái độ khoan dung… thế hệ sau…
phải tìm ra được tiếng nói riêng… sống động và khác lạ…” Muốn vậy “phải lao động
hết sức gian nan… và đòi hỏi có một đam mê mãnh liệt đến mức dũng cảm”.
“Người sáng tác tìm được cái độc đáo rất khó”. Chừng nào người sáng
tác nói được tiếng nói của mình thì chừng đó anh ta mới trưởng thành, và được
“ra ở riêng”. Lê Đạt rút ra kinh nghiệm: Nhà thơ muốn sắm được chiếc áo mới mẻ,
hiện đại để sang nước ngoài ngó nghiêng một lát thôi, thì cũng phải tự làm ra
chữ nghĩa, không nên cứ “ăn nhờ ở đậu” bố mẹ mình [5] .
Tôi – kẻ hậu sinh chợt thấy trong nhiều cuộc trò chuyện [6] Lê Đạt rất
khoái nói về sự can đảm – can đảm biến khát vọng trở thành hiện thực, can đảm
phá bỏ định kiến đứng trên vai thần tượng, can đảm phê phán, can đảm định giá
truyền thống bằng đôi mắt của chính mình và can đảm vượt mình để không phải “ăn
mày dĩ vãng”… Người ta nói: Lê Đạt có cái nhìn trẻ một cách lạ lùng. Thử đọc lại
bài thơ sau:
Bầy
em én
tin xuân
tròn mẩy áo
Hội kênh đầy
chân trắng ngấn sông quê
nắng mười tám
nắng bờ đê con gái
cây ải cây ai
gió sải
tóc buông thề
Một lần trả lời phỏng vấn báo Sinh viên Việt Nam (2004), nhà thơ Lê
Đạt cho biết: “Cái đẹp trong câu thơ kêu gọi sự cao thượng”, thơ ca thể hiện
“cảm xúc mĩ học”. Do quan niệm cái đẹp có khả năng thanh lọc tâm hồn con người,
làm cho con người sống đẹp đẽ hơn, nên Lê Đạt hăng hái đi tìm cái đẹp ấy. Xét
trên phương diện này, có thể nói thơ Lê Đạt giàu tính nhân văn.
Đọc Lê Đạt, nghe Lê Đạt nói, thoạt tiên ta thấy ông khá bi quan.
Nhưng xét kĩ thì không phải vậy. Chẳng hạn, khi nhà thơ Nguyễn Đức Tùng [7] hỏi
thông điệp của ông “Gửi nhà thơ trẻ”, Lê Đạt nói: “Mỗi thế hệ đều có bi kịch
riêng của mình. Vấn đề là anh có nhận ra cái bi kịch ấy không và có sống với nó
hay không”. Lê Đạt bàn nhiều về năng lực và bản lĩnh của nhà thơ. Ông vừa khắt
khe vừa cởi mở đối với nhà thơ trẻ. Khắt khe, vì ông trọng nghề và đam “mê chữ”.
Cởi mở, bởi ông hiểu bất kì nền văn học lành mạnh, khoẻ khoắn nào cũng có nhu
cầu cách tân, cũng cố gắng thoát khỏi sự khô khan cứng nhắc của tình trạng chính
trị hoá văn học. Lê Đạt và những người bạn cùng chí hướng với ông đều nhìn nhận
tiến bộ xã hội có trước sẽ tạo ra một nền tảng tư tưởng thuận lợi cần thiết cho
tiến bộ văn chương.
Ông cũng đề cao sự đoàn kết, sẻ chia giữa các văn nghệ sĩ với nhau:
“Văn nghệ sĩ ở chế độ nào cũng bị bạc đãi, thế thì chúng ta phải thương nhau. Từ
kinh nghiệm cá nhân của tôi mà ra, tôi thấy văn nghệ sĩ mà không biết thương
nhau chỉ chờ chính trị thương mình là một ảo tưởng quá lớn”. Trăn trở với chuyện
đối xử tệ bạc ở lĩnh vực văn chương, Lê Đạt đề nghị thi nhân văn sĩ người Việt ở
mọi nơi phải hoà thuận với nhau, ai cũng phải tự giác ngộ và biết cách xoá bỏ
khái niệm ranh giới trong tâm thức mình.
Wolfgang Kubin, một Giáo sư Hán học người Đức từng tổng kết: “Nhà văn
Trung Quốc trước năm 49 đều giỏi ngoại ngữ. Trương Ái Linh, Lâm Ngữ Đường, Hồ
Thích… đều có thể viết văn bằng ngoại ngữ. Một số nhà văn giỏi nhiều ngoại ngữ,
ví như Lỗ Tấn. Sau 1949, về cơ bản, bạn không thể tìm được một nhà văn Trung
Quốc nào biết ngoại ngữ cả. Bởi vậy anh ta không thể nhìn lại tác phẩm của mình
từ một hệ thống ngôn ngữ khác. Ngoài ra, anh ta cũng không thể đọc được các tác
phẩm ngoại văn. Anh ta chỉ có thể tiếp cận với những tác phẩm nước ngoài đã được
dịch sang tiếng Trung. Bởi vậy, sự tìm hiểu và hiểu biết của nhà văn Trung Quốc
về văn học nước ngoài cực kỳ kém, kém vô cùng. Trước năm 1949, không ít nhà văn
cho rằng, học ngoại ngữ để làm phong phú ngòi bút của mình. Nhưng nếu bạn hỏi
một nhà văn Trung Quốc (hiện nay) vì sao không học ngoại ngữ, anh ta sẽ nói,
ngoại ngữ chỉ có thể phá hoại tiếng mẹ đẻ của tôi. Tại sao sau năm 1949, Trung
Quốc lại không có một nhà văn vĩ đại nào, tại sao những nhà văn này chắc chắn
không thể sánh được với các nhà văn trước năm 1949?”
Lê Đạt cũng sớm chủ trương nhà thơ “nên học thêm một, hai ngoại ngữ
để có thể đọc được nguyên bản…” Ông khoe: “Thế hệ của tôi thường biết tiếng
Pháp. Cũng có nhiều người đọc được cả tiếng Nga hay tiếng Anh, có người cũng đọc
được chữ Hán. Ảnh hưởng từ văn học nước ngoài rất lớn, vì mình biết được người
ta đã làm gì và đang làm gì. Học nhiều thứ. Học ở các bậc thầy cả về kĩ thuật
làm thơ”. Vấn đề quan trọng của việc học ngoại ngữ, hiểu theo cách của Lê Đạt
là: cái nhìn của nhà thơ sẽ không bị phong bế, con chữ của nhà văn sẽ có thêm
một sức mạnh để không phải bị cầm tù hay bị quật ngã.
Vậy đấy, vấn đề giao lưu tiếp biến văn hoá, học hỏi kĩ thuật sáng tác
từ bên ngoài để hội nhập văn chương từ lâu các nhà văn làm rồi, đâu phải đợi đến
ngày nay.
——————————————————————————–
[1]Bài viết này chỉ điểm lại một số quan điểm thơ ca của nhà thơ Lê Đạt.
[2]Có bài chỉ có hai câu theo kiểu thơ Haiku: “Mimôza”, “Vũ ẻn”, “Xôlô”, “Bống
bống”, “Tương tư”, “Áo trắng”, “Tuổi chín”, “Vải Thanh Hà”, “Tóc phố”, “Mộng
cũ”, “Trêu ngươi”, “Mắt bão”…
[3]Dĩ nhiên không phải từ bài thơ này.
[4]Lê Đạt, Trần Dần từng bảo nhau: đào mồ chôn thơ tiền chiến.
[5]Xem:“Nhà thơ Lê Đạt: giải thường này chỉ là một cử chỉ đẹp.”
http://vietnamnet.vn/vanhoa/tintuc/2007/02/666038/
[6]Đọc một số bài phóng viên phỏng vấn Lê Đạt.
[7]Xem: http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=11021&rb=0401
Nguồn: Đã đăng trên Tạp chí Nhà văn 5- 2008
·
·
Lê Đạt, Người Hiền
·
Nguyên Ngọc
·
Tạp chí Tia sáng
·
Lê Đạt là người có ý thức sâu sắc, rõ rệt hơn cả về con đường đi của mình, cũng
là con đường đi của người trí thức, người nghệ sĩ chân chính trong những điều
kiện khắc nghiệt của chuyển động lịch sử và xã hội đầy éo le của đất nước thời
anh sống. Và anh hiểu điều đó vừa bằng một tâm hồn và một tài năng nghệ sĩ không
hề nhỏ, vừa bằng một tri thức khổng lồ về văn hóa văn minh dân tộc và nhân loại
mà anh kiên trì chiếm lĩnh suốt đời.
·
Trong tiến trình văn hóa và tư tưởng của chúng ta từ khoảng năm bảy chục năm nay
có một hiện tượng rất đáng chú ý, chừng nào đó thậm chí có tính quy luật. Đó là
hiện tượng về vai trò, vị trí và hành xử của người trí thức trong xã hội. Trí
thức Việt Nam tuy nhỏ, có thể không bằng được ở một số quốc gia lớn và độc lập
lâu đời, nhưng có đặc điểm nổi bật là hết sức yêu nước. Cũng dễ hiểu thôi, họ là
trí thức của một dân tộc bị mất nước hàng thế kỷ, chính vì là trí thức nên trong
họ nỗi đau và nỗi nhục mất nước nên càng sâu đậm, thống thiết. Mà cách mạng của
ta, rồi tiếp liền sau đó là kháng chiến, trước hết và chủ yếu là cách mạng và
chiến tranh giải phóng dân tộc. Cho nên tuyệt đại đa số trí thức Việt Nam, những
người ưu tú nhất trong số họ, đều đi với cách mạng và kháng chiến, số người vì
lý do này khác không cùng đi hoặc không đi được đến cùng rất ít.
·
Nhưng trí thức thì bao giờ cũng vậy, ở đâu cũng vậy, đối với họ khát vọng sâu xa
nhất, lâu dài nhất, sống còn nhất là tự do. Độc lập và tự do không phải bao giờ
cũng hoàn toàn là một, nhất là khi cuộc chiến đấu vì độc lập ở trong điều kiện
khó khăn, khốc liệt như chúng ta đã phải đối mặt lâu dài vừa qua, và tự do là tự
do cho đến tận từng con người, từng cá nhân. Trong điều kiện đó, khối tuyệt đa
số trí thức của chúng ta đi với cách mạng và kháng chiến đã có một hành xử tuyệt
đẹp: họ tự nguyện tạm dẹp lại những yêu cầu về tự do vốn là lẽ sống của họ, vì
đòi hỏi cấp thiết hơn của cách mạng và chiến tranh giải phóng dân tộc. Trong lực
lượng chung đó nổi bật vai trò của trí thức văn nghệ sĩ, không phải vì họ “giỏi”
hơn, sâu sắc hơn, nhưng vậy đó, cuộc sống đã giao cho họ chức năng đặc biệt là
suy nghĩ và phát ngôn của xã hội. Cho nên cũng chính trong trí thức văn nghệ sĩ,
chịu khó quan sát kỹ và tinh ý đôi chút, sẽ không khó nhận thấy thỉnh thoảng ít
nhiều biểu hiện của mâu thuẫn tiềm ẩn được tạm dẹp lại vừa nói trên. Cuộc tranh
luận về cái gọi là “nghệ thuật và tuyên truyền” ngay giữa thời kháng chiến chống
Pháp, trong đó Tô Ngọc Vân - họa sĩ tài năng nhất và cũng tâm huyết nhất, người
đã hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ - phải chịu nhận phần thua, là một
trong những bằng chứng… Nghĩa là “tạm dẹp lại” vì nghĩa lớn của đại cuộc, nhưng
về cơ bản không mất đi, không yên, không thể yên. Nó tất sẽ bùng dậy mỗi khi yêu
cầu độc lập dân tộc bớt căng ... Tôi nghĩ cần hiểu cái gọi vụ Nhân văn Giai
phẩm, và anh Lê Đạt, một trong những nhân vật trung tâm của sự kiện đó,
trong bối cảnh lịch sử và xã hội ấy. Nó diễn ra sau khi cuộc kháng chiến chống
Pháp đã kết thúc thắng lợi, tức là khi vấn đề dân tộc đã được giải quyết một
bước lớn - và sau năm 1975 khi vấn đề độc lập dân tộc đã được giải quyết về cơ
bản thì lại có hiện tượng tương tự, lần này rộng lớn, sâu và dai dẳng hơn. Nghĩa
là quả có một quy luật thật. Hoặc nói rõ hơn, trong người trí thức Việt Nam đi
với cách mạng và kháng chiến ít nhiều đều có một “giằng xé” bên trong, mà họ
phải vượt qua, và mỗi người đã vượt qua một cách khác nhau. Anh Lê Đạt đã vượt
qua theo cách của anh, riêng anh, để trở nên một Lê Đạt như chúng ta biết, rất
ít nói và rất khiêm nhường, rất súc tích cả trong lối sống lẫn trong phát ngôn
bởi rất từng trải, chỉ những người thật từng trải qua trầm luân đắng cay lắm mới
có được, thâm trầm và nhân hậu trong cuộc sống, sâu sắc và uyên thâm trong tri
thức, chín chắn mà mới mẻ, luôn mới mẻ và dồi dào đến lạ trong sáng tạo. Như một
Người Hiền.
·
Trong một bài viết gần đây trên Tạp chí Tia Sáng, anh Cao Huy Thuần có nói rất
hay về hai kiểu ứng xử khác nhau của người trí thức trước những tình thế phức
tạp và tế nhị của thế cuộc: kiểu
André Malraux và kiểu Albert Camus.
Tôi nhớ chỉ vài tuần trước khi anh Lê Đạt mất, cũng chính ở Tòa soạn Tia Sáng,
chúng tôi có trao đổi với nhau về hai cách hành xử của hai nhà trí thức lớn đó.
Hôm ấy anh Lê Đạt bảo Camus triệt để hơn, anh trọng Camus hơn, về tư tưởng, cả
về nhân cách lẫn tài năng mà anh cho là đều lớn hơn. Thậm chí, vốn rất cẩn
trọng, vậy mà anh không ngại tỏ ý chê Malraux… Song, lạ vậy, trong cuộc đời thật
của mình, đối mặt với những chọn lựa lớn mấy mươi năm dài, theo tôi anh Lê Đạt
đã hành xử theo cách Malraux chứ không phải theo cách Camus. Hoặc đúng hơn, anh
đã bị giằng xé trong chọn lựa giữa kiểu Malraux và kiểu Camus, và đã đi từ
Malraux đến Camus. Rất có thể đây là một trường hợp khá điển hình về người trí
thức Việt Nam trong cách mạng, điển hình không phải vì nó phổ biến, mà vì nó là
biểu hiện tập trung tấn kịch căng thẳng đến sâu thẳm của người trí thức.
·
Hồi làm việc ở Hội Nhà Văn, tôi biết Hội sở hữu một thư viện không lớn lắm nhưng
có một số sách hết sức quý do Sứ quán Pháp ở Hà Nội tặng. Tôi thường mò xuống
đấy, có khi lang thang suốt ngày giữa cái kho báu tuyệt vời ấy. Buồn thay, kho
sách vô giá lại thường vắng tanh. Hôm nào tôi cũng chỉ gặp ở đấy duy nhất có một
người cùng lang thang: anh Lê Đạt. Tôi biết anh đã lâu nhưng thân anh chính là
từ dạo ấy. Bạn sách. Anh ấy là một con mọt sách, suốt đời. Anh sống đầm mình
suốt đời trong trí tuệ lớn của toàn nhân loại. Từ đó tìm lấy chọn lựa sống và
viết cho mình trên đời này. Những anh em thường tụ hội nhau ở Tạp chí Tia Sáng
đều biết rõ con người rất thường lẫn khuất và hết sức giản dị ấy lại là một cuốn
tự điển sống hầu như bất tận. Cả về tri thức đông tây kim cổ, lẫn trải nghiệm
muôn mặt cuộc đời.
·
Có lẽ rồi chúng ta sẽ dần dần nhận ra khoảng trống anh vừa để lại cho chúng ta
hôm nay là một khoảng trống chẳng biết bao giờ mới lấp được của một nhà hiền
triết, người đã gian nan mà nhẹ nhàng đi qua những tình thế chẳng hề đơn giản và
dễ dàng của đất nước gần ngót một thế kỷ qua.
·
Nguồn: Tạp
chí Tia sáng
|
Lê Đạt và Bóng
Chữ
Đặng Tiến |
J'ai reculé les limites du cri
Paul Eluard, 1940
Bóng
Chữ tập thơ Lê Đạt
từ ngày xuất bản, 1994, đến nay, đã gây nhiều dư vang và dư luận, một hiện tượng
hiếm hoi trong lĩnh vực thơ, và đáng mừng vì chứng tỏ ngày nay còn có nhiều
người lưu ý đến thi ca. Cuộc thảo luận, kéo dài non một năm nay, tuy chưa mở ra
được những nẻo đường mới, chưa giải phóng những tiềm năng sáng tạo dồn nén trong
thơ từ nhiều thập niên qua, trước một nền thi ca thế giới thường xuyên đổi mới,
vẫn là một tiến bộ. Những giáo điều đang thay đổi, vẫn là giáo điều nhưng cũng
có đổi thay.
Bóng Chữ là
một tác phẩm quan trọng tâm huyết của một tác gia đã làm thơ non nửa thế kỷ.
Thế Giới Này Là Của Chúng Ta tập
thơ đầu tay của Lê Đạt đã xuất bản từ 1955, sau đó là Bài
Thơ Trên Ghế Đá,
1957. Nhưng cùng với nhiều bạn thơ khác như Hoàng Cầm, Trần Dần, Văn Cao cùng in
chung một tập thơ Cửa
Biển, nhà thơ Lê
Đạt dính vào phong trào Nhân
Văn Giai Phẩm nên bị
trù yểm suốt non ba mươi năm. Dư luận ít nhắc đến Lê Đạt, tư liệu về anh cũng
không nhiều.
Theo kỷ yếu của Hội nhà văn, Lê
Đạt tên thật là Đào Công Đạt, sinh ngày 10.9.1929 tại làng Á Lữ, tỉnh Bắc Giang,
bên bờ sông Thương, gần Yên Thế. " Đất
quê cha tôi / đất quê Đề Thám "
(Bóng Chữ, tr. 7), anh lớn lên tại " một
tỉnh thượng du bụi đỏ / Bến Âu Lâu sông Hồng "
(tr.14) và hiện sống tại Hà Nội, " 9
gác Lãn Ông / Lòng xanh xuân chờ "
(tr. 84).
Bóng Chữ còn mang đậm nhiều chi
tiết khác trong đời sống thực sự của tác giả. Tập thơ không phải trò chơi chữ
chập chờn như đã có người nói mà là ám ảnh của một đời dài gian lao, lận đận.
*
Tập thơ gồm 108 bài, phần nhiều
thơ ngắn, hai câu, năm mười câu ; dăm bài dài nhất chỉ độ trăm câu. Hai mươi bài
thơ (ngắn) làm từ 1965 đã in chung với thơ Dương Tường trong tập 36
Bài Tình (1989).
Bài Cha Tôi làm
từ 1956. Đoạn văn xuôi Nhân
Con Ngựa Gỗ là tuyên
ngôn của trường phái thơ Lê Đạt, trích đoạn một bài báo đã đăng trên tạp chí Tác
Phẩm Mới số 3-1992 trong đó tác giả xác định quan điểm sáng tác : " thơ
phải cô đúc, đa nghĩa. Đa nghĩa vì câu thơ mang nặng lịch sử chữ, hoạt động ở
nhiều tầng văn hoá, cả trong ý thức lẫn vô thức người viết (...) Nói như Valéry
chữ trong thơ và văn xuôi tuy giống nhau về hình thức nhưng khác nhau về giá trị
(...) Nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải ở nghĩa " tiêu dùng " nghĩa tự vị của
nó mà còn ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ trong tương
quan hữu cơ với câu thơ và bài thơ "
(tr. 50). Điều này hiển nhiên và không mới, các nhà văn nhà thơ phương Tây đã
nói cách đây hàng trăm năm, nhóm Xuân
Thu Nhã Tập tại
Việt Nam đã vang vọng từ 1942 (in lại tại Hà Nội 1992). Từ thời Kháng chiến
chống Pháp gian nan (1949) Nguyễn Đình Thi đã viết : " Chữ
và tiếng trong thơ phải còn có một giá trị khác, ngoài giá trị ý niệm. Người làm
thơ chọn chữ và tiếng không những vì nghĩa của nó, cái nghĩa thế nào là thế ấy,
đóng lại trong một khung sắt. Điều kỳ diệu của thơ là mỗi tiếng mỗi chữ, ngoài
cái nghĩa của nó, ngoài công dụng tên của sự vật, bỗng tự phá tung ra, mở rộng
ra, gọi đến chung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, toả ra chung
quanh nó một vùng ánh sáng động đậy. Sức mạnh nhất của câu thơ là ở sức gợi ấy ".
Nguyễn Đình Thi đã dùng một hình ảnh cụ thể, đúng và đẹp : " Mỗi
chữ như một ngọn nến đang cháy, những ngọn nến ấy xếp bên nhau thành một vùng
ánh sáng chung. Ánh sáng không những ở đầu ngọn nến, nó ở tất cả chung quanh
những ngọn nến. Ý thơ không những trong những chữ, nó vây bọc chung quanh. Người
xưa nói : thi tại ngôn ngoại. "
(1)
Về địa hạt này, bản thân tôi cũng
đã có đóng góp nhiều bài. Thơ là gì ? Thơ hay và văn hay.
(2)
Bóng Chữ của Lê Đạt
ghi lại lịch sử một đời người, qua buồn vui một cá nhân, giữa thăng trầm của dân
tộc, và trăn trở của một nghệ sĩ thường xuyên tra vấn ngôn ngữ. Ba yếu tố ấy
quyện vào nhau làm nền cho tập thơ, nhưng thành phần thứ ba, những thí nghiệm
ngôn ngữ có phần khúc mắc, che lấp tình, ý của tác giả, dễ làm người đọc lạc
hướng và lạc lõng. Sự thật Lê Đạt chỉ tạo rung cảm mới bằng một vài thủ pháp :
đảo ngữ, ẩn ngữ, nhấn mạnh vào ngữ âm, khai thác tính đa nghĩa trong từ vựng, sử
dụng điển cố văn học một cách rộng rãi, từ tục ngữ, ca dao đến thi pháp nước
ngoài. Khai thác kinh nghiệm những người đi trước, từ Baudelaire, Maiakovski đến
thơ siêu thực và hiện đại Pháp, tiếp cận những lý thuyết văn học, ngữ học và
nhân học mới, Lê Đạt thực tâm muốn làm mới thơ mình. Nói theo ngôn ngữ phê bình
hiện đại, thì Lê Đạt khai thác triệt để khả năng văn học của ngôn ngữ về hai mặt
từ hệ (paradigme) và từ tổ (syntagme), lịch đại (diachronie)
và đồng đại (synchronie). Thơ Lê Đạt, dù cầu kỳ, cũng không thoát khỏi
bốn cạnh của ô vuông đó.
Thử đọc một câu thơ
Lê Đạt :
Liễu đầu cành
độc thoại đoạn trường xanh
(Tỏ Tình, tr. 35)
Chữ nghĩa, mặc nhiên,
nhắc tới cuộc chia ly trong Chinh Phụ Ngâm :
Liễu dương biết thiếp
đoạn trường này chăng
(Dương liễu na tri thiếp đoạn trường)
Chữ độc thoại sâu sắc
: con người hỏi cây liễu về nỗi lòng mình, còn cây liễu thì... hỏi ai ? Lê Đạt
đã nói lên được niềm cô đơn câm nín của những cuộc đời không có tiếng nói, hay
có tiếng nói mà không ai nghe, không ai hiểu.
Chữ xanh trong " đoạn
trường xanh "
rất hay vì nhắc lại ý " đoạn trường tân thanh ", và tạo cho hai chữ " tân
thanh "
một ý nghĩa khác với Nguyễn Du.
Vẫn một chữ liễu :
Cầu nước chảy
bóng chiều xuân tha thướt
Xanh Thanh minh em thổi liễu vô hình
(bài Nguyễn Du,
tr.112)
Câu thơ nhắc đến
Kiều, đoạn tả Thanh minh :
Dưới dòng nước chảy
trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha
và có lẽ cần nhớ thêm
cầu thệ thuỷ với quán thu phong của Ôn Như Hầu. Trong Kiều, khi chàng Kim ngoái
lại nhìn, còn thấy Thuý Kiều, dần dần hình ảnh cô gái nhoà đi trong dáng liễu,
nhưng vẫn còn dáng liễu và ánh nắng. Trong Lê Đạt, hạnh phúc qua đi là mất hết.
Một chữ liễu khác :
Cười tít ông già gốc
liễu
Ở ẩn
còn trồng bích đào
(bài Đào Uyên Minh,
tr.102)
Đào Tiềm, tự là Uyên
Minh có bài ký kể Chuyện
Ông Già Năm Cây Liễu,
lánh đời, ẩn dật bên cạnh năm cây liễu. Câu thơ Lê Đạt tinh quái ở một chữ " còn "
đối lập " ở
ẩn" với " bích
đào ", ý
nói tránh tục luỵ mà vẫn còn mê nhan sắc. Chữ cười
tít thân
mật, hài hước, ngụ ý : trồng liễu, trồng cúc hay bích đào, mê say cái này hay
cái khác ở đời, cũng vậy thôi.
Người xưa có chuộng
cánh chim chiều trên núi Nam San như Đào Tiềm hay yêu cô gái hái sen như Bạch Cư
Dị :
Cô gái trộm hái sen
về ủ tuổi
Lỏng khuy cài
gió cởi
một dòng hương
(bài Bạch Cư Dị,
tr.104)
Ngày nay thích cái
quần jin xổ
dài cũng
vậy thôi.
Bài thơ về Hồ Xuân
Hương vỏn vẹn hai câu :
Xuân chẳng buông
hương,
Sao bướm vượt đường
Kìa hoa leo tường
là hoa dâm bụt
(bài Hồ Xuân Hương,
tr.112)
Câu sau cấu trúc theo
đồng dao lại dựa trên hình ảnh leo tường theo cổ văn (Mạnh Tử, Tống Ngọc...) gợi
cảnh trai gái vụng trộm, nhưng người đọc không cần hiểu đến ngành đến ngọn như
thế, cũng đoán ra được ý. Và hay nhất là chữ " dâm
bụt ", một
loài hoa dại " không
trồng mà mọc "
tươi thắm, lộ liễu, nở trên những hàng rào bờ giậu : đã bụt rồi mà vẫn còn...
dâm. Ranh mãnh không kém Xuân Hương. Một lối đối lập như vậy nhưng đau thương
hơn :
Ai xui em đẹp em xinh
Ba lần con thiến gáy
(Mới Tuổi, tr.25)
Đau đớn vì một chữ " thiến "
: con gà, bộ phận sinh dục bị phế thải, mà vẫn còn tình yêu, vẫn còn thê thiết
" gáy ".
Tiếng gọi tình tuyệt vọng, " não
nùng " hơn
tiếng gà trong thơ Lưu Trọng Lư. Ba lần là tiếng gọi hồn :
Hương thắp ba lần
không đáp lửa
Hồn có nhà
hay bát mộ đi xanh
(Thanh Minh, tr.134)
Thơ Lê Đạt thường đòi
hỏi người đọc phải suy nghĩ về từ ngữ, ngay cả trong những đề tài thời sự :
Tuổi Việt Minh
thu băm sáu bến cờ hồng
Áo bướm phố truyền đơn
Nắng rám
má bòng thơm mười chín
(Tuổi Việt Minh,
tr.100)
Hai câu đầu dễ đoán :
Hà Nội ba mươi sáu phố phường, vào những ngày cách mạng mùa thu tràn ngập cờ
hồng. Và truyền đơn bươm bướm bay như những tà áo, Hàng Đào, Hồ Gươm đã một thời
nổi tiếng. Nhưng còn " má
bòng " ? Ở
đây phải biết câu tục ngữ : tháng tám nắng rám trái...bưởi, chị em với...bòng !
Từ đó, ló ra ý " tháng
tám" và " mười
chín " là
ngày Hà Nội cướp chính quyền 19-8-1945. Dĩ nhiên ai hiểu tuổi
mười chín thơm đôi má hay má chín như trái bòng,
cũng không sao.
Thu Nhà Em là
một bài thơ hay và trong sáng :
Anh đến mùa thu nhà
em
Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ
Mà cho đấy rửa lông mày
Nông nỗi heo may từ đó
Mưa đêm tuổi nổi ao
đầy
Đồi cốm đường thon ngõ cỏ
Bướm lượn bay hoa ngày
Tin phấn vàng hay thuở gió
Tóc hong mùi ca dao
Thu rất em
và xanh rất cao
(Thu Nhà Em, tr.26)
Âm điệu bay nhẹ trên
những cánh thơ sáu chữ nhiều âm bằng, nhiều chữ em và vần m. Một câu thơ cô đúc
:
Nắng cúc lăm răm vũng
nhỏ
Chữ " lăm
răm "
không có trong từ điển, có lẽ do Tản Đà sáng tạo trong bài Gửi Chị Hàng Cau
(1916) :
Ai đang độ ấy lăm răm
mắt
Tản Đà tạo ra từ " lăm
răm " trên
nhiều cơ sở : tiếng Việt đã có những chữ na ná : " lăm
tăm " và
" lâm râm "
: mưa lâm
râm ướt dầm lá hẹ trong
ca dao. Lại có :
- Cô
nào con mắt lá răm
Đôi mày lá liễu đáng trăm quan tiền
- Cổ
tay em trắng như ngà
Đôi mắt em liếc như là dao cau
Bài thơ Tản Đà gửi cô
hàng cau, và gợi hình ảnh đôi mắt tình tứ. Trong câu thơ Lê Đạt, chữ lăm
răm tả ánh
nắng lăm tăm, lăn tăn trên vũng nước, mà đồng thời gợi tác dụng của đôi mắt :
hình ảnh toàn bài thơ phản ánh ca dao :
Trên trời có đám mây
xanh
(...)
Đừng rửa lông mày chết cá ao anh
Trong thơ Lê Đạt " vũng
nhỏ " nhắc
lại đôi mắt, vào một ngày thu biêng biếc : nước phải thật trong và trời phải
thật xanh, như trong thơ Nguyễn Khuyến, lại có thêm nắng cúc vàng hanh ấm áp.
Bình thường không ai
nói " nắng cúc " mà chỉ nói trà cúc, rượu cúc : do đó màu nắng dậy lên chất men
ngây ngất. Cảm giác ấy, ta có gặp trong văn xuôi : " Buổi
sáng mùa đông ngây ngất vào lối 10 giờ "
(Thanh Tâm Tuyền, Bếp
Lửa,
tr.11) hay thơ Huy Cận : Chỉ
biết trời xanh là ta say.
Người xưa nói : thu
ẩm hoàng hoa tửu là
ám chỉ rượu cúc. Lê Đạt không nói gì về rượu, người đọc vẫn ngất ngây, cho đến
câu cuối :
Tóc hong mùi ca dao
Thu rất em
và xanh rất cao
Câu thơ trước chỉ vỏn
vẹn năm chữ mà nói lên được năm cảm giác của ngũ quan.
Câu dưới biến từ loại (nature
grammaticale) thành từ tính (qualificatif). Chữ " rất "
biến "em "
thành tính từ, trong khi chữ " xanh "
trở thành thể từ. Không gian từ hữu thể như tan biến, như thăng hoa thành vô
thể, trong " quãng trời
hình như không có màu nữa, cao lên và rộng mông mênh "
(Nhất Linh, trong Đôi
Bạn, tr. 211).
Thu Nhà Em là
một bài thơ hay và hàm súc. Bình luận sẽ không cùng khi đã biết rằng :
Nông nỗi heo may từ
đó...
·
Đặng Tiến
·
(còn tiếp)
(1) In lại trong Tác
Phẩm Mới, Hà Nội, số 3-1992
(2) Giai Phẩm Văn,
Sài Gòn, tháng 10 và 12 năm 1973
Lê Đạt với những đối thoại về thơ
TRẦN HOÀI ANH
NVTPHCM- “Là một nhà thơ luôn đề cao cá tính sáng tạo, với những trải nghiệm của
mình, Lê Đạt muốn đối thoại với thơ để khám phá bản thể của thơ. Đó cũng là cách
để ông đối thoại với đời và khám phá bản thể con người. Và qua những đối thoại
của ông về thơ, ta thấy trong quan niệm của Lê Đạt: “Thơ là chóp của kim tự tháp
văn hoá”. Nghĩa là thơ đã trở thành một đỉnh cao văn hóa loài người”.
1.
Không phải ngẫu nhiên Paul Valéry tự nhận rằng: “ Những câu thơ đối với tôi
chẳng có ích lợi gì trực tiếp, trừ phi gợi ra cho tôi những suy tưởng về nhà
thơ”. Việc các nhà thơ vừa làm thơ vừa phát biểu những suy niệm của mình về thơ
cũng là cách đối thoại với thơ. Bởi lẽ, những câu hỏi Thơ là gì? Nhà thơ là ai?
Hành trình sáng tạo thơ như thế nào?... mãi mãi là những vấn đề thời sự luôn đặt
ra với người làm thơ và những người yêu thơ. Vì vậy, những đối thoại của Lê Đạt
về thơ thiết nghĩ vẫn là một vấn đề không những có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn
có ý nghĩa về thực tiễn.
Biết bao nhà thơ cả đời luôn khao khát đi tìm bản thể thơ để trả lời câu hỏi thơ
là gì!? Lê Đạt cũng vậy. Suốt cuộc đời dấn thân vì thơ, ông luôn đối thoại với
thơ như đối thoại với tâm linh của mình. Thơ hiện hữu trong tâm thức ông không
chỉ có những câu thơ đa nghĩa như một thứ “bóng chữ” mà còn có cả những ưu tư
của ông về thơ. Với ông, thơ như một thứ đạo, một thứ tôn giáo, một thứ cơ
duyên. Nói như Đặng Tiến: “Người đời ví thi nhân với kiếp tằm, Lê Đạt tự xem
mình như một lá dâu, còn lại trơ gân, xác xơ thân xác”. (1)
Đi tìm sự đối thoại của Lê Đạt về thơ tức là đi tìm mối cơ duyên ấy của thi sĩ
đối với thơ. Bởi theo ông, thơ là một nghề. Không những thế nó còn là một thứ
nghiệp chướng không thể dứt bỏ được. “Không người làm thơ nào không phải trải
qua những cơn tuyệt vọng muốn quẳng bút đi làm nghề khác cho nó khỏe. Nhưng thơ
là một nghiệp, một tình yêu đắm đuối” (2)
Xuất phát từ quan niệm như thế nên Lê Đạt rất coi trọng sự sáng tạo của nghề
thơ. Ông yêu cầu người làm thơ phải tận hiến cho thơ, phải chủ động “cày sâu
cuốc bẩm” trên cánh đồng thơ để tìm thi hứng “Không nên thụ động thắp hương chờ
mà phải chủ động gọi hứng đến. Công việc này đòi hỏi một kỷ luật nghiệt ngã,
gian khổ”. (3) Song
nghề thơ trong quan niệm của Lê Đạt không chỉ có gian khổ mà còn là một nghề
“hơi bị nguy hiểm” mà sự nguy hiểm nhất theo ông đó là “tình trạng mà Rilke gọi
là niềm “cô đơn không tận” của nghiệp thơ.” (4)
Thật vậy, cô đơn phải chăng là một yếu tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Không
hít thở trong bầu khí quyển cô đơn ấy người nghệ sĩ không thể sáng tạo được
những tác phẩm để đời. Bởi thế, Inrasara cho rằng sở dĩ ta chưa có những tác
phẩm lớn vì người nghệ sĩ hiện thời “chưa đủ cô đơn cho sáng tạo”. Cô đơn vì
vậy, không chỉ là một phẩm chất sáng tạo của người nghệ sĩ mà còn là một yếu
tính của nghệ thuật. Bởi nói như Nguyên Sa: “Đó là một niềm cô độc kinh khủng.
Nhưng đó cũng là sự cô đơn thiết yếu cho sáng tạo”.(5) Lao
động nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng bao giờ cũng sáng tạo trong cô
độc. Hành trình sáng tạo của người nghệ sĩ luôn mang dấu ấn cá nhân. Điều đó
không những thể hiện cá tính sáng tạo mà còn biểu lộ tài năng thi sĩ.
Thơ là một nghề nhưng là “nghề của bề sâu. Nghề thơ cũng như nghề giếng vậy, chỉ
có đi sâu mới tìm ra nước”. (6) Lao
động thơ là một thứ lao động “thầm lặng, chán nản, đơn độc, vất vả” (7) ;
là “sự giằng xé căng thẳng”(8) từ
trong sâu thẳm tâm thức của thi nhân. Trong quan niệm của Lê Đạt, lao động của
nhà thơ chính là đào sâu, sáng tạo trên từng con chữ. Đối với ông chữ không chỉ
đơn thuần là một kí hiệu giao tiếp mà như một sinh thể luôn cựa quậy, là một thứ
mặc khải để thi nhân bộc lộ quan niệm nhân sinh của mình. Sự linh diệu của thơ
bao giờ cũng hiển lộ ở chữ. Và sự linh diệu của chữ chính là sự linh diệu của
thơ. Đây là phép biện chứng trong sáng tạo thơ ca. Vì thế, Lê Đạt đặt ra một yêu
cầu rất nghiêm khắc đối với nhà thơ khi ông cho rằng: “ Nhà thơ không coi rẻ chữ
như những vật vô tri vô giác, những công cụ quẳng đi khi đã hết tác dụng mà tôn
trọng chữ như những sinh vật có hồn, lắng nghe tiếng nói của chữ và trò chuyện
với chữ như những nhà ngoại cảm lắng nghe và trò chuyện với thế giới bên kia.” (9)
Không coi rẻ chữ, lắng nghe và trò chuyện với chữ, nghĩa là Lê Đạt đã đối thoại
với thơ. Chữ trong thơ, vì thế đã trở thành người bạn tri âm của thi sĩ. Chọn
lựa chữ, nghiêm khắc với chữ trong thơ cũng chính là sự chọn lựa của tình yêu và
trách nhiệm với ngòi bút của mình. Đó là sự tôn trọng chính mình và tôn trọng
người đọc. Vì theo Lê Đạt: “Với đa số chữ là tình nghĩa / Với nhà thơ chữ là
tình yêu”. (10) Chính
vì rất đề cao vai trò của chữ trong thơ mà ông đã xác quyết: “Một nhà thơ có
kinh nghiệm là nhà thơ biết im lặng để nghe chữ phát biểu”. (11) Và
ông rất tôn trọng sự “dân chủ” của chữ khi cho rằng: “Những tác phẩm thơ hay
thường là kết quả sự cưỡng lại của chữ”.(12)
2. Lê
Đạt là một trong không nhiều nhà thơ có quan niệm khá nghiêm khắc và đúng đắn về
chữ trong thơ. Quan niệm ấy có thể có người cho là một thứ cực đoan hình thức.
Nhưng trong một bối cảnh nào đó, khi khuynh hướng xã hội học dung tục đã lấn áp
và nếu còn lấn áp cá tính sáng tạo của nhà thơ như nó đã từng xảy ra trong đời
sống văn học dân tộc ở một thời chưa xa thì những ý kiến của ông về vai trò của
chữ trong thơ vẫn còn nguyên giá trị. Vấn đề “cao trọng hóa” vai trò của chữ
trong thơ không chỉ dừng ở quan niệm mang tính lý thuyết mà Lê Đạt còn ứng dụng
trong quá trình sáng tạo thơ. Ông là nhà thơ luôn khắt khe với chính mình khi
lựa chọn chữ. Ông tự nhận mình là “phu chữ”. Vì thế, trong quan niệm của Lê Đạt
cá tính sáng tạo của nhà thơ bao giờ cũng gắn liền với việc chọn lựa chữ trong
thơ. Ông cho rằng: “chữ bầu lên nhà thơ”, và “cái quan trọng nhất đối với người
làm thơ không phải là những phút hân hoan thù tạc “văn mình vợ người” hay nhận
hoa trên sàn diễn mà là những phút giây thầm lặng, chán nản, đơn độc và vất vả
trên xới chữ”.(13) Và nhà
thơ bao giờ cũng là người bộ hành cần mẫn dấn thân trên con đường chọn lựa “giữa
nghĩa và hàm nghĩa, giữa chữ và bóng chữ”. (14) Hiện
hữu của nhà thơ chính là hiện hữu của chữ trong thơ. Nhà thơ nếu không tạo ra
được một “hành tinh” riêng về ngôn ngữ, nghĩa là anh ta đã tự đánh mất sự hiện
hữu của mình. Và khi đó thơ anh chỉ là một “nấm mộ lạnh lẽo” trong nghĩa trang
thơ. Chữ trong thơ, vì thế là một “nhãn hiệu cầu chứng” cho sự hiện tồn của thi
nhân; là một trong những yếu tố quan trọng nhất nếu không nói là yếu tố quyết
định tạo nên phong cách nhà thơ. Vũ trụ của mỗi nhà thơ được tạo nên từ những
tinh tú của ngôn ngữ thơ mà ngôn ngữ thơ bao giờ cũng là hiện thân của chữ. Vì
vậy, trong quan niệm của Lê Đạt, để khẳng định sự tồn sinh của mình “Người làm
thơ tự trọng trên lĩnh vực ngôn ngữ phải bận tâm đến việc mở mang bờ cõi ngôn
ngữ, tương tự một nhà bác học mở rộng bờ cõi của khoa học, đổi khác cách nhìn tự
nhiên, khai khẩn những vùng mù của kiến thức”. (15) Và
theo ông “chỉ nhà thơ có tiếng nói riêng” mới được coi là “nhà thơ đã trưởng
thành”.(16)
Quan niệm về ngôn ngữ thơ của Lê Đạt có những điểm tương đồng với Nguyên Sa.
Bởi trong quan niệm của Nguyên Sa: “thực chất của thơ là cái linh hồn, là sự
sống của những chữ ta dùng. Làm văn xuôi, chữ không có sức mạnh ma quái như
vậy(…) thi nhân là một thần linh nói một thứ chữ riêng mà thế nhân phải diễn tả
dài dòng thô lậu”. (17) Thật
vậy, ngôn ngữ thơ bao giờ cũng là sự vang vọng từ trong tâm cảm của thi nhân.
Nói như Trần Nhựt Tân: “ Ngôn ngữ thơ ca là một ngôn ngữ có nội dung phản ảnh
được dư vang nghệ thuật”. (18)
Xuất phát từ một quan niệm giá trị như thế nên trong tư duy thơ của mình, Lê Đạt
xem chữ như
một hệ qui chiếu để định vị nhà thơ và sự cách tân trong thơ. Làm thơ dù được
coi là một công việc “sang trọng” nhưng Lê Đạt cho rằng: “Nhà thơ không phải là
một chức vị suốt đời. Mỗi lần bắt đầu làm một bài thơ, nhà thơ lại phải trải qua
sự bỏ phiếu tín nhiệm của chữ”.(19) Bởi lẽ, theo Lê Đạt: “con đường thơ là một
chu kỳ mở. Không ai được vỗ ngực độc quyền chân lý cũng như tự cho phép mình nói
tiếng nói cuối cùng”. (20)
Không chỉ trong thơ mà trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, có lẽ không thể
có tiếng nói cuối cùng về bất cứ vấn đề gì. Cuộc sống luôn vận động và phát
triển. Mọi sự vật và hiện tượng trong cõi nhân sinh luôn biến đổi. Không ai có
thể tắm hai lần trên một dòng nước như một lời triết gia đã nói. Sự hiện hữu bao
giờ cũng là sự hiện hữu của khoảnh khắc vô thường. Hiện hữu và hư vô là hai mặt
của một quá trình biện chứng. Thơ cũng thế! Thơ bao giờ cũng hiện hữu trong hư
vô và hư vô trong hiện hữu. Thế nên, khi bàn về tính hiện đại trong thơ Lê Đạt
cho rằng: “Thơ không sống bằng phủ định loại trừ mà bằng khẳng định bổ sung.
Không phải chỉ có một cách hiện đại mà có nhiều cách hiện đại. Không có một tổng
công ty độc quyền phát hành tín phiếu hiện đại. Thơ hiện đại không phải một
trường hợp phải khép kín. Mà một trường hợp phải mở”. (21) Và
“Người làm thơ chơi những phép tu từ như một thứ bẫy vô thức. Anh ta sinh sự với
ngữ nghĩa và ngữ pháp để tạo ra một sự sinh mới cho thơ”. (22)
Hành trình sáng tạo của mỗi nhà thơ luôn gắn với hoàn cảnh và số phận của mỗi
người. Vì theo Lê Đạt: “Con đường thơ gồm nhiều con đường riêng rất khác nhau
của từng người. Không có đại lộ chung một chiều cho tất cả. Ta có thể nói con
đường thơ chính là số phận của một nhà thơ”. (23) Chính vì thế, khi bàn về thơ
hay, Lê Đạt đã có một ý tưởng khá độc đáo và lý thú. Ông cho rằng: “Những câu
thơ hay đều kỳ ngộ, nhưng là kỳ ngộ kết quả của một thành tâm kiên trì, một đa
mang đắm đuối làm động lòng quỉ thần, chứ không phải may rủi đơn thuần.
Làm thơ không phải đánh quả. Và không ai trúng số độc đắc suốt đời”. (24)
Thật vậy, “trúng số độc đắc” đã là điều mầu nhiệm, và không thể có sự mầu nhiệm
suốt đời. Làm được những câu thơ hay trong quan niệm của Lê Đạt là một phép mầu
như “trúng số độc đắc”. Sự so sánh tưởng chừng giản đơn nầy đã hàm chứa trong đó
sự tôn vinh những giá trị cao cả của thơ. Rõ ràng, không có những sự thăng hoa
diệu kỳ trong sáng tạo thì không thể có những câu thơ hay. Sáng tạo thơ bao giờ
cũng là sự ám ảnh của vô thức và tâm linh. Đi vào thế giới của thơ là đi vào thế
giới của những ảo diệu, của mặc khải để người nghệ sĩ thể hiện những dự phóng
sáng tạo của mình. Vì thế, khi bàn về sự nối tiếp giữa các thế hệ trong sáng tạo
thi ca, Lê Đạt cũng thể hiện một quan niệm riêng của mình mà ở đó “chữ” trong
thơ luôn là một chuẩn giá trị để ông khẳng định tài năng của nhà thơ. Theo ông:
“Cái trẻ, cái già của nhà thơ quyết định không phải do ở tuổi đời, mà ở nội lực
chữ”. (25)Và “phần lớn các
nhà thơ “trẻ” đều bắt đầu “già” vì thường nghĩ và nói lại những điều đã học được
của người xưa. Nhà thơ tự trọng phải phấn đấu gian khổ để tạo cho mình một “ngôn
ngữ riêng”. Và chỉ khi bắt đầu có một ngôn ngữ riêng nhà thơ mới thật sự trở
thành trẻ”. (26)
Như vậy, trong quan niệm của Lê Đạt không thể có nhà thơ trẻ hoặc già mà chỉ có
nhà thơ luôn tạo cho mình một “nội lực chữ” để tạo cho mình một thế giới “ngôn
ngữ riêng”. Và chính thế giới “ngôn ngữ riêng” nầy sẽ làm nên một hệ giá trị
trong vũ trụ thơ của thi nhân. Nó khẳng định sự hiện tồn của nhà thơ trong tâm
thức người đọc cũng như định vị tư cách nhà thơ trên thi đàn. Thơ luôn “chống
lại nguy cơ sa mạc hoá của tâm cảnh”. (27) Và
khi nào nhà thơ không để cho tâm cảnh của mình bị sa mạc hoá, lúc đó nhà thơ mới
có cái nhìn linh động về cuộc sống và khi đó thế giới ngôn ngữ của nhà thơ mới
phong phú và linh động. Vì vậy, theo Tô Thuỳ Yên: “Nhiệm vụ người làm thơ là bơm
chất máu của sự sống thời đại vào ngôn ngữ có vẻ đã khô héo”.(28) Bởi
vì “trong thơ chẳng có chi đáng nói bằng sự khôn tả, vì thế người ta trông cậy
nhiều vào sự ngụ ý lẫn sau các dòng chữ” (P. Reverdy).
3.
Nhà thơ Phùng Quán đã từng tâm niệm: “ Có những phút ngã lòng / Tôi vịn câu thơ
mà đứng dậy!”. Thơ là gì mà có sức mạnh diệu kỳ đến thế!? Câu trả lời sẽ đến với
mỗi chúng ta từ sự nghiệm sinh của chính mình. Thơ là thơ nhưng thơ cũng chính
là cuộc đời. Vì vậy, qua những đối thoại của Lê Đạt về thơ ta thấy được những
quan niệm của ông về cuộc sống và con người. Đó là những khát vọng về dân chủ,
về tự do, về chân lý, về sự khẳng định nhân vị con người.
Là một nhà thơ luôn đề cao cá tính sáng tạo, với những trải nghiệm của mình, Lê
Đạt muốn đối thoại với thơ để khám phá bản thể của thơ. Đó cũng là cách để ông
đối thoại với đời và khám phá bản thể con người. Và qua những đối thoại của ông
về thơ, ta thấy trong quan niệm của Lê Đạt: “Thơ là chóp của kim tự tháp văn
hoá”. (29) Nghĩa
là thơ đã trở thành một đỉnh cao văn hóa loài người. Vì thế, theo ông: “một nền
thơ lành mạnh sống động không thể không luôn đổi mới. Đổi mới là lội ngược dòng
suy thoái. Đổi mới là tạo ra một entropi âm, nó chính là sinh tố cải lão hoàn
đồng của trí tuệ”.(30) Vì
vậy, những đối thoại về thơ của Lê Đạt sẽ góp phần gợi thức cho chúng ta trong
việc nhận diện khuôn mặt thơ hôm nay, nhằm cách tân nền thơ ca dân tộc, hướng
đến một xã hội nhân văn. Vì nói như Lê Đạt: “Đọc một câu thơ hay, ta thường có
cảm giác đứng trước một bến đò gió nổi, một khao khát sang sông, một thúc đẩy
lên đường hướng thiện những vùng trời đẹp hơn, nhân tính hơn…” (31)
Và việc tìm đến với bản thể thơ cũng chính là tìm về những giá trị văn hoá mà
trong đó cái đẹp bao giờ cũng được tôn vinh như một biểu tượng của sự bất tử
trong cõi nhân sinh vốn đầy giới hạn và bất an này. Bởi theo Lê Đạt: “Thơ là một
cố gắng về mỹ học cũng là một cố gắng về đạo đức học”. (32) Và
thơ hay bao giờ cũng là hiện thân của cái đẹp. Vì vậy, nó sẽ góp phần cứu rỗi
nhân loại này.
Chú thích:
(1). Đặng Tiến, Thơ
thi pháp và chân dung, Đb Phụ nữ, H, 2009, tr.315
(2)(3)(4)(7)(8) (9) (13) (14) (16) (19) (20) (21) (23) (24) (25) (26) (29) (30)
(31) Lê Đạt, Đối
thoại với đời và thơ, Đb Trẻ, 2008, tr. 143,140, 142, 149, 136,
131,149, 136, 135, 163, 119, 107, 119, 117,118, 124,140, 106, 115
(5) Nguyên Sa, “Sự cô độc thiết yếu”, Sáng
Tạo số 5/1958, tr.76
(6) Chế Lan Viên, Suy
nghĩ và bình luận, Đb Văn học, H,1960, tr. 215
(10) (11) (12) (15) (22) (27) (32) Lê Đạt, Đường
chữ, Đb Hội Nhà văn, H, 2009, tr.419, 395, 402, 494, 627, 568, 496,
573.
(17) Nguyên Sa “Trả lời phỏng vấn của Thượng sĩ, Phan Kim Thịnh và Vũ Bằng”, Văn
học số 99/1969, tr.8
(18) Trần Nhựt Tân, Dư
vang nghệ thuật, Đb Hạnh, SG, 1971, tr 81
(28) Nhiều tác giả, Thảo
luận về Văn nghệ tiền chiến, về Nhân vật trong tiểu thuyết, về Thơ, Đb
Sáng Tạo, SG, 1965, tr. 134
NHÀ
THƠ LÊ ĐẠT
với giấc mộng cách tân thơ Việt
NGUYỄN VIỆT CHIẾN
NVTPHCM- “Tuy cùng khởi cuộc cách tân như nhau, nhưng Lê Đạt khác với Trần
Dần. Ông đã dành hết tâm sức của mình cho một cuộc chơi mới, cuộc chơi của một
nhà-phu-chữ như cách dùng từ của Lê Đạt”.
Cùng với nhà thơ Trần Dần, nhà thơ Lê Đạt đã làm một cuộc cách -tân- thơ âm
thầm trong suốt 30 năm và thế hệ các ông đã ghi dấu ấn khởi đầu cho chặng đường
nhọc nhằn đổi mới của thi ca Việt Nam sau thơ Tiền chiến. Lê Đạt tâm sự: “Ngay
từ nhỏ, tôi đã ôm ấp mộng cách tân thơ Việt- lẽ dĩ nhiên lúc đó tôi không ý thức
được rõ rệt nên cách tân như thế nào. Sau Cách mạng tháng 8, nhà thơ ảnh hưởng
đến tôi nhiều nhất là nhà thơ Xô-viết Mayakovsky. Tôi thích những hình ảnh quả
đấm hết sức táo bạo cũng như những bài thơ quảng trường mạnh mẽ tham gia trực
tiếp vào quá trình hay đổi xã hội của ông. ảnh hưởng của Maya rất đậm nét trong
những bài thơ đầu tiên có những hình ảnh sinh sự, khiến tôi ít nhiều được công
nhận như một nhà thơ cách tân: Những kiếp người sống lâu trămtuổi/
Y như một dãy bình vôi/ Càng sống càng tồi/ Càng sống càng bé lại”.
Cuộc
chơi của một nhà - phu - chữ
Tuy cùng khởi cuộc cách tân như nhau, nhưng Lê Đạt khác với Trần Dần. Ông đã
dành hết tâm sức của mình cho một cuộc chơi mới, cuộc chơi của một nhà-phu-chữ
như cách dùng từ của Lê Đạt. Trong bài thơ Bóng
chữ, một bài đặc trưng cho phong cách Lê Đạt, cái cảm xúc trữ tình
của thơ Tiền chiến đã được chuyển hoá sang một dạng trữ tình khác, nó không dạt
dào, sướt mướt ở bề mặt chữ, nó khơi gợi sự âm vang bất ngờ từ bề sâu của một
cảm xúc, một suy tư:
Chia xa rồi anh mới thấy em
Như một thời thơ thiếu nhỏ
Em về trắng đầy cong khung nhớ
Mưa mấy mùa
mây mấy độ thu
Vườn thức một mùi hoa đi vắng
Em vẫn đây mà em ở đâu
Chiều Âu Lâu
bóng chữ động chân cầu
Câu kết của bài thơ mang trong nội hàm của chữ một dư âm mới. Qua bài thơ
này, chiều Âu Lâu không còn là một địa danh trữ tình của riêng nhà thơ nữa khi
bóng chiều, bóng chữ hay bóng người tình xưa còn đang vang động ở phía chân cầu
của ký ức vì khu vườn xưa vẫn thức một mùi hoa đi vắng mặc dù mưa đã mấy mùa và
mây mấy độ thu. Lê Đạt là một thi sĩ dày công chăm bón chữ nghĩa, tôi có cảm
giác trước khi gieo trồng mỗi câu thơ của mình, ông làm chữ kỹ càng tới mức “xói
đất, lật cỏ” như một nông phu cần mẫn làm đất chuẩn bị mọi thứ cho một vụ mùa
gieo trồng mới của họ. Nhưng khác với công việc cày ải, gieo trồng của các nông
phu, công đoạn làm chữ của một nhà thơ theo kiểu phu- chữ luôn cần tới một tố
chất thiên bẩm khác, đó là khả năng khơi dậy sự sống động của cảm xúc và trí
tưởng tượng từ những con chữ vô tri, vô giác theo một cấu trúc ngôn ngữ thơ:
Anh tìm về địa chỉ tuổi thơ
Nhà số lẻ
phố trò chơi bỏ dở
Mộng anh hường
tìm môi em bói đỏ
Giàn trầu già
khua
những át cơ rơi
Bài thơ Át
cơ nói trên của Lê Đạt
ngay từ khi mới công bố đã gây nhiều tranh cãi khác nhau, nhưng bất luận thế nào
thì mọi người cũng thống nhất đây cũng là một bài thơ hay. Cái hay của nó không
chỉ bởi sự liên tưởng của nhiều hình ảnh lạ xuất hiện trong một bài thơ rất
ngắn, cái hay của nó còn nằm ở kỹ năng chơi chữ rất tài hoa và tinh tế kiểu Lê
Đạt, đã khiến cho mỗi người đọc bài thơ lại nhận thấy có một tâm tưởng khác, một
cảm hứng khác, một khung trời khác sau những câu thơ mang vẻ đẹp bí ẩn nói trên.
Luận bàn về thú chơi chữ trong thơ, Lê Đạt từng khẳng định trong Đường chữ:
“Người làm thơ chơi những phép tu từ như một thứ bẫy vô thức. Anh ta sinh sự với
ngữ nghĩa và ngữ pháp để tạo ra một sự sinh mới cho thơ. Người làm thơ rắp tâm
biến ngôn ngữ tiêu dùng thành một thứ ngôn ngữ trò chơi (hiểu theo nghĩa mạnh)
trong một trạng thái nửa tỉnh nửa mơ mà Roland Barthes gọi là một sự chú ý bồng
bênh (attention flottante). Chính cái trò chơi hết mình này khiến Freud coi các
nghệ sĩ như một thứ trẻ con lớn tuổi có khả năng đánh thức bản năng trò chơi của
độc giả. Người chơi chữ dễ dàng được coi là người thông minh, chơi như vậy là
chơi đùa. Nhà nghệ sĩ cũng như đứa trẻ không chơi đùa mà chơi thật, khiến trò
chơi chữ không còn là một trò chơi đơn thuần dựa trên óc thông minh của một
người tỉnh táo mà dựa trên toàn bộ trí năng cũng như cảm năng của một kẻ đam mê
bị thánh ốp trong một cơn thượng đồng của chữ”. Thiết nghĩ, bàn về sự chơi chữ
trong thơ đến thấu đáo như vậy thì cũng đã đủ cho chúng ta thấy Lê Đạt uyên bác
và tinh tế trong cách dùng chữ nghĩa như thế nào.
Hệ thống mỹ cảm mới trong sự cách điệu con chữ
So với những cách tân quyết liệt của Trần Dần thì Lê Đạt đi theo một hướng
khác, ông cố gắng đưa ra một hệ thống mỹ cảm mới trong sự cách điệu những con
chữ mà bài thơ Quan
họ sau đây là một ví dụ
điển hình:
Tóc trắng tầm xanh qua cầu với gió
Đùi bãi ngô non
ngo ngó sông đầy
Cây gạo già
lơi tình
lên hiệu đỏ
La lả cành
cởi thắm
để hoa bay
Em về nói làm sao với mẹ
Em trường nét gốm thon bình cổ đại
Mình Lưỡng hà
thoai thoải
vú Đông Sơn
ước gì
nhỏ đấy bằng con giống
Bỏ túi đi cùng
ta phố bông tình bông
Ở bài thơ trên, nhịp thơ vẫn cũ nhưng hình ảnh và âm điệu thơ đã mới rất
nhiều. Cái hình tượng: “ Đùi bãi ngô non ngo ngó sông đầy” là một phát hiện mới
rất Lê Đạt về mặt mỹ cảm và không chỉ xuất hiện một lần, ngay trong đoạn thơ sau
đó, ông lại múa bút vẽ những nét xuất thần để độc giả thơ được thấy: “Em
trường nét gốm thon bình cổ đại/ Mình Lưỡng hà thoai thoải vú Đông Sơn”.
Cái đẹp rung động này mang hơi thở ngàn năm của đất đai, sông núi và mãi trường
tồn như ngàn khúc dân ca miền Kinh Bắc. Đây là một bài thơ đặc sắc viết về Quan
họ với cách nhìn rất mới của Lê Đạt khi âm điệu câu thơ dường như còn nhấn nhá,
ngân nga theo nhịp hát Quan họ: “Cây gạo già lơi tình lên hiệu đỏ/ La lả cành
cởi thắm để hoa bay”, nhưng hình ảnh bao trùm lên toàn bộ bài thơ là một không
gian đầy sức sống của vẻ đẹp phồn sinh đang hiện hữu trong từng câu chữ.
Sau Bóng
chữ, Lê Đạt đã dành gần 200 trang thơ trong tập Ngó lời (ĐB Văn học
1997) để trình bày một cuộc chơi mới của mình với gần 300 bài thơ viết theo kiểu
thơ Hai kâu (đồng dạng với kiểu thơ Hai-cu của Nhật Bản). Với Lê Đạt, nhiều
người đọc đã rung động trước một lời tâm sự khá nổi tiếng của ông: “Một nhà thơ
sắp già báo trước một người đàn bà chưa hết trẻ: “Anh bảo đảm không làm phiền em
cõi đời, không dám hứa không làm phiền em cõi chữ, ở đó hai ta đều bất lực”- Thơ
là kết quả của sự làm phiền đó chăng”. Nếu coi chiếc áo dài truyền thống của thơ
là vẻ đẹp quyến rũ của lục bát-ca dao thì phải chăng đẹp vẻ khêu gợi một cá tính
của bộ váy áo âu-tây mát mẻ chính là đường nét của thơ hiện sinh. Theo tôi, Lê
Đạt là một nhà chủ động cách tân nhằm hiện –sinh- hóa những mảnh rời của hiện
thực theo kiểu những bài thơ Hai-kâu sau đây của ông:
Tình sét đánh má đồi môi bão ập
Yêu một liều xuân bất chấp thu lôi
(Thu lôi)
Tầu đắm hẹn bội thề lênh láng biển
Trăng tình bờ mộng thải nhiễm ô mơ
(Ô nhiễm)
Em tình tựa cơ may phường ảo số
Mỗi ngã đường e cửa ngõ Tạm Thương
(Ngõ Tạm Thương)
Rượu nổ má bừng cỗ xuân ầm ã
Mâm một tình mời ăn vã cô đơn
(Cỗ xuân)
Tôi nhất quyết rằng, những bài thơ trên đây là một kiểu “đố chữ” rất tài
tình, lý thú của Lê Đạt (khi tên của bài thơ nằm ngay trong 2 câu thơ) và nếu
như tác giả giấu tên thật của mỗi bài thơ Hai-kâu thì người đọc khó mà đoán đúng
được ý đồ đặt tên bài thơ của tác giả. Kiểu thơ Hai-kâu này cho thấy nhà thơ đã
dày công tìm tòi nhiều cách chơi chữ rất kỳ ảo và biến hóa, nó nén lại cả một
năng lượng thẩm mỹ chỉ trong hai câu thơ ngắn và đây là một hướng cách tân thơ
rất hiện đại của nhà phu- chữ- thơ (theo cách gọi của Lê Đạt).
Nguồn: Văn
Nghệ Trẻ
Mã thơ Lê Đạt
Đỗ Lai Thúy
Lòng mới ngỏ yêu
tim ngọng nói
Lời tỏ tình chưa sáng sõi bình mình
Lê Đạt
Cách đây khoảng hơn hai chục năm, tôi sống trong một căn phòng áp mái trong ngôi
nhà lớn nhìn thẳng ra Hồ Gươm. Những buổi chiều, sau khi đi làm về, tôi “được
lệnh” của vợ “ra nhà trẻ đón con rồi đưa nó ra hồ để thở.” Đây là lúc thư thả
nhất trong ngày. Tôi chọn một ghế đá, ngồi ôm con, nhìn thiên hạ diễu qua trước
mắt. Trong cái đám đông đi dạo dưỡng sinh quanh hồ ấy, ngày nào tôi cũng thấy
một người "tham trẻ sợ già" qua mặt tôi đến hai ba vòng. Ông khoảng năm mươi
tuổi, đầu cắt ngắn, quần xoóc, áo cộc. Khi thì đi trầm ngâm một mình, khi thì
dăm ba người, cười cười nói nói. Một hôm, khi ông ngang qua, thấy tôi mải nhìn
theo, ông già ngồi cùng ghế bỗng nói: "Anh biết ông ấy à? Ông bình vôi
đấy!". Tôi còn đang ngơ ngác chưa hiểu, thì ông se sẽ đọc:
Những người sống lâu trăm tuổi
ỳ như một chiếc bình vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại.
À ra Lê Đạt. Hình giờ mới biết, nhưng tiếng thì đã từ lâu với nhiều giai - huyền
thoại. Có lẽ với tôi lúc ấy, văn chương còn là chuyện ngoại đạo, nên tôi chỉ
ngồi từ xa mà nhìn ông như một tượng đài quá khứ. Mãi sau này, tôi mới biết
rằng, cái tượng đài ấy không chỉ biết phong rêu và trang nghiêm đứng cho đời
chiêm ngưỡng, mà còn biết đi, biết đồng hành với thời gian.
Tôi chỉ thực sự quen Lê Đạt sau sự ra đời của cuốn Con mắt thơ(1992)
của tôi và Bóng chữ (1994) của ông. Thực ra, sự làm quen trên thực
tế này chỉ là một tiếp nối lôgích của những gặp gỡ trên chữ nghĩa từ trước.
Trong khi đang chối từ lời chào mời đồng đội của đại lộ phê bình xã hội học để
rẽ lối vào phê bình mới, tôi hạnh ngộ ở ông cũng một hành trình đi tìm
cho thơ một ngôn ngữ mới. Thơ Lê Đạt, bởi vậy, là một môi trường lý tưởng để
thực hành phương pháp phê bình ngôn ngữ học. Và, có thể, cũng chỉ có bộ công cụ
ấy mới khai thác được những đóng góp mới mẻ của thơ Lê Đạt chăng?
*
Sau rất nhiều ướm thử, tôi đặt tên cho bài viết đương thai của mình là Mã thơ
Lê Đạt. Cũng như trường hợp những người yêu nhau, cái tên cho đứa bé sắp ra
đời là rất quan trọng. Nó không chỉ định hướng mà còn định hình cho sự phát
triển và diện mạo của thai nhi. Chữ mã tôi dùng ở đây có hai nghĩa. Mã là
tạng, tạng người, tạng thơ. Mã cũng còn là mật mã, là code của một hành
ngôn thơ. Và người ta có thể thấy mã này (tạng thơ) nằm ở trong mã kia (code
thơ), bởi thơ Lê Đạt là một ngôn ngữ.
Có lẽ, khi Cửa hàng Lê Đạt bị đóng, trong những tháng ngày cô đơn tầm thư
học chữ ở Thư viện Quốc gia, câu nói nổi tiếng của S. Mallarmé: người ta không
làm thơ bằng những tư tưởng, mà bằng những chữ, đã là một thứ công án làm nhà
thơ đốn ngộ. Cái nghịch lý hiển nhiên, sự đối thoại trực diện của nó với một nề
nếp thơ ca nói chí, chở đạo đã tạo ra một chấn động tâm lý, và vỡ một nhận thức,
khai nguyên một ngôn ngữ mới. Lê Đạt đã mạnh dạn từ bỏ những mùa khem, những câu
kinh kệ cũ mèm, Amen, để lột xác thành một nhà thơ mới. Ông ký đăng vào ngôi
chùa Quốc ngữ như một đứa trẻ được bán khoán và chỉ tính tuổi mình, tiểu sử nói
của mình theo giấy tái khai sinh:
Thuở ấy tôi rất già
Mở miệng
khuôn tổ tiên rập nói
Tôi bán khoán cửa
chùa Quán Ngữ
Lời chuộc tuổi mình
Nói thật khai sinh
(Chuộc tuổi)
Từ tư tưởng trên của Mallarmé, Lê Đạt coi "chữ bầu nên nhà thơ", hoặc nhà thơ là
"phu chữ". Điều này đã vấp phải cái lương tri thông thường. Những người này coi
thơ Lê Đạt như sự lừa dối. Họ đọc thơ ông như bóc một tấm bánh: lột hết lớp lá
ngôn từ này đến lớp lá ngôn từ khác mà chẳng thấy cái nhân tư tưởng ấy đâu.
*
Đọc Bóng chữ, người ta thấy rõ ràng ông bị từ nhập, từ ám. Ngoài nhan đề,
các từ chữ, âm, trang, nghĩa… xuất hiện trong thi phẩm với một tần số rất
cao:
- Vẩy chữ thăng hoa
- Bước thị thơm chân chữ động em về
- Tha thẩn chữ ngã ba
- Chữ khép lối đồi chim non câu ngủ
Trang tầm xuân
cau chưa mở nụ ngà
Đàn từ non
âm hé môi cong mỏ hót
Sức ám của con chữ (chứ không phải con tự, một thứ rửng mỡ như Tú
Xương nói: "Chắc hẳn thịt xôi lèn chặt dạ, Không dưng con tự bỗng thòi ra") cũng
mãnh liệt như sự ám ảnh của con dục(libido), có khi còn mạnh hơn, ít nhất
ở một số nhà thơ. Nó thúc đẩy thi nhân phải đi tìm chữ. Lê Đạt có nhiều tuyên
ngôn chữ, nhưng đặc hơn cả có lẽ là Chi Chi Chành Chành. Mượn lời thiêng
con trẻ, nhà thơ sấm truyền thông điệp của mình
Chi chi chành chành
Chữ đanh thổi lửa
Đanh là cái đinh, có thể là một dụng cụ đánh lửa của người xưa. Đanh cũng là rắn
lại, co lại, sắt lại. Chữ đanh là chữ được cô đặc, nén chặt, hàm xúc. Lửa là
năng lượng, sức nóng, sự toả sáng. vật chất càng đặc thì năng lượng càng lớn.
Chữ càng đanh thì hàm nghĩa càng lớn. Và muốn có chữ đanh thì nhà thơ phải khổ
công đi tìm trong đám vật liệu ngôn từ nhật dụng, một thứ "quặng chữ" theo cách
nói của Maia:
Cấp kế đi tìm
Ta vẫn đi tìm
Đi tìm là một tư thế thường trực của nhà thơ, bởi vì trước khi con chữ xuất hiện
chưa có nhà thơ, nhà thơ do những cử tri chữ bầu lên. Tìm ở khắp nơi kể cả bên
kia thế giới:
Mai sau ta
chết
Ai đó đừng
quên
Đưa ta dăm
đồng
Để ta ăn
đường
Để ta sang
sông
Để ta đi
tìm
Cuộc tìm
chữ một cách khổ công như vậy (Lê Đạt gọi nhà thơ là phu chữ) cũng chẳng
phải là điều mới. truyền thống thơ Á Đông và thơ Trung đại thế giới là truyền
thống tìm chữ. "Sự bao cấp tư tưởng" của đạo Thiên chúa, đạo Hồi, của các chế độ
chuyên chế tìm kiếm cái đẹp ở những kiến trúc tổng thể, những tư tưởng và
triết học của riêng mình, nên đành phải hướng tài năng vào việc tinh luyện câu
chữ. Các nhà thơ Trung Hoa và Việt Nam đua nhau đi tìm các thần tự, nhãn tự. Đỗ
Phủ làm thơ mà chưa hạ được một chữ kinh động quỷ thần khi ăn không ngon ngủ
không yên. Giả Đảo mắc kẹp giữa hai chữ thôi, xao như con lừa chết đói
giữa hai bó cỏ… Các nhà thơ xưa thường tìm nghĩa của chữ ở trong bản thân chúng,
tức là ở trong cái hiện thực mà nó phản ánh. Họ không biết rằng, chữ nghĩa chỉ
là một thứ ký hiệu mang tính võ đoán. Nghĩa của từ ở ngoài câu là ở dạng
tiềm sinh. Nghĩa chỉ xuất hiện khi từ có quan hệ kề cận hoặc lựa chọn với các từ
khác trong câu. Phát hiện này của F. de Saussure đã làm cho ngữ học thực sự trở
thành một khoa học (với nghĩa là có đối tượng riêng, có phương pháp riêng). Các
nhà thơ hiện đại không thể không biết đến ngữ học như là một khoa học về vật
liệu, vật liệu ngôn từ. Nhưng nhà thơ không chỉ dừng lại ở vật liệu, mà phải
biến vật liệu thành nghệ thuật, biến ngôn ngữ tiêu dùng (giao tiếp) thành ngôn
ngữ thi ca, bằng sự cấu trúc hóa nó, nghĩa là đặt nó vào những tương quan mới
để nó phát nghĩa mới.
Trong ngôn
từ nhật dụng, mỗi từ thường chỉ phát một nghĩa, bởi nếu phát nhiều nghĩa thì tạo
ra sự nhiễu tin làm ách tắc quá trình giao tiếp. Đa số những người làm thơ hiện
nay vẫn sử dụng kiểu phát nghĩa đơn tuyến này. Người phu chữ Lê Đạt không đi tìm
những thần tự, nhãn tự để làm sang cho thơ. Sự tìm chữ của ông thực chất là tìm
cách phát nghĩa mới: chữ đanh thổi lửa. Mỗi từ của Lê Đạt đều phát nhiều
nghĩa, bởi nó nằm trong nhiều mối quan hệ với các từ khác trên cả trục kề cận
lẫn trục liên tưởng.
Đọc Bóng
chữ, người ta thấy có nhiều từ mới, có lẽ, của riêng trong tự vị Lê
Đạt. Ông sáng tạo chúng bằng cách ghép những từ mà trong đời sống tự nhiên chúng
chẳng bao giờ có duyên kết hợp với nhau với nhau. Cuộc hôn phối này sở dĩ đứng
được là do ông Q thợ trời biết nhúng chúng vào một tiểu khí hậu thơ. Nhân
tạo thành thiên nhiên, kỹ thuật thành nghệ thuật. Đó là những từ nai phố, tấm
chữ (phiến, cô Tấm), boong phố (Boong phố nổi chàm nê ông lạ), tim
môi: (Mộng anh hương/tim môi anh bói đỏ), tuổi đèn (Gió ăng ten / Phố
mấy tuổi đèn), bát mộ (Hồn có nhà/ hay bát mộ đi xanh)…
Cũng có
khi, để tăng khả năng phát nghĩa của từ, nhà thơ đặt từ B vào giữa từ A và từ C
(theo kiểu A - B - C) để B tham gia vào cả hai mối quan hệ, nên nó có hai nghĩa
khác nhau cùng phát một lúc:
- Thu
mở mùa chim mây vỡ tổ
- Nay mùa
đông lúa
Ngô bồng
bông con.
Ở mùa
chim thì chim là thật, ở chim mây thì chim là ẩn dụ. Người ta có thể
đọc Thu mở mùa chim/mây vỡ tổ hoặc Thu mở mùa/chim mây vỡ tổ.
Nhưng đọc thơ là đọc cùng một lúc và toàn khối, nên ta có đồng thời hai nghĩa
của chim. Sự chuyển dịch từ nghĩa này sang nghĩa kia tạo nên hứng thú.
Cũng như vậy, mùa đông và đồng lúa, bồng bông và bông
con, rồi bồng… con, như một hình ảnh thơ.
Trên đây
là đặt từ trong mối liên hệ kề cận, liên hệ tuyến tính, còn trong mối liên hệ
liên tưởng thì mỗi từ đều có quan hệ với các từ khác nhờ trường ngữ nghĩa. Như
trong hai câu thơ Mưa rửa đền/ Hoa tuổi trắng lau quên, chữ lau có
thể là hoa lau, màu bạc trắng, gợi một niềm quên lãng, mầu thời gian. Nhưng câu
trên có chữ rửa, cho nên chữ lau còn có thể được hiểu như là chùi,
xóa. Cả hai cách hiểu đều có nghĩa. Hơn nữa, chữ đền cũng có hai nghĩa:
1) Là ngôi đền do liên ý mưa rửa chùa (trước ngày hội hay trước ngày Phật đản);
2) là đền bù. Cũng nằm trên trục liên tưởng, mật từ nằm trong văn bản, do cách
dùng đặc biệt của nó, có thể gợi nhắc đến những từ khác hoặc ngữ liệu khác vắng
mặt trong văn bản, nhưng thường trực trong kho kinh nghiệm và tri thức của người
đọc.
Một đàn
ngày trắng phau phau
Bì bạch bờ
xoan nước mát
(Thủy
lợi)
Câu trên
làm người ta nhớ đến câu đó - câu ca dao "Một đàn cò trắng phau phau / Ăn no
tắm mát rủ nhau đi nằm". Chữ bạch ở câu dưới bất giác làm ta nhớ đến
câu đối kiểu của Đoàn Thị Điểm ra cho Quỳnh, khi anh chàng tinh nghịch này nhòm
trộm nàng tắm:"Da trắng vỗ bì bạch". Những liên văn bản này đều nói đến
"tắm", đến "nước", những bổ sung cần thiết cho chủ đề thủy lợi.
Phong cách
ngôn ngữ thơ Lê Đạt, theo cách hiểu hiện hành, là một phong cách không thuần
nhất, "hầm bà làng". Trước hết, đó là sự trở về với những nguyên âm. Bóng chữ sử
dụng rất nhiều nguyên âm. Có điều, do đặc điểm của tiếng Việt, các nguyên âm ấy
đều mang nghĩa, mà phần nhiều đều là một từ: O (Ngò trắng ổ hoa vườn
trứng cuốc / Tù và ngà ai ọ nghé đồng tranh; Đèn mơ ngơ/ Xuân ớ/ Ngã từ ờ…), (Gió
ú đầu ga / Mưa oà thiên hà), e (Chỉ bóng anh / ò e / xe Văn Điển), u (Ngõ
trắng bời bời mây nổi / U ú thiên hà / tàu nhả khói ngã ba; Tim ù ù / gió ú /
một nguyên âm…). Nguyên âm, có lẽ, là những tiếng đầu tiên của con người
chuyển từ "ngôn ngữ" không phân tiết của loài vật sang ngôn ngữ phân tiết của
người. Sự ú ớ của họ mang nặng bao tình cảm, kinh nghiệm của thời tiền sử. Việc
Lê Đạt sử dụng nhiều nguyên âm u (u là mẹ, u là đất, đất mẹ) như một tiếng mời
gọi trở về với cội nguồn nguyên thuỷ, cội nguồn vô thức. Ngoài ra, ông còn sử
dụng nhiều từ thuần Việt và các ngữ liệu dân gian, như Bống bống, Tấm, Bích
câu, Từ Thức… để tạo thành một chiều sâu văn hóa. Tuy vậy, ông không quên
đưa những từ hiện đại và đời sống hiện đại vào thơ như tạm ứng (Nhận ra tôi
chỉ gốc cây gạo cụt / Tạm ứng nửa trời hoa trước đón nhau), Kênh hoa sen,
cấm vận (Tại bến nụ đòng em khép mọng / Kênh hoa sen /mùa cấm vận / môi
đèn), ăng - ten (Mái cao thấp/ chiều ngổn ngang tần số/ Đầu ăng -
ten/ trời quê ngoại kênh chờ), trung tâm ngoại ngữ (Em trung tâm nào, Ngữ
ngoại tim anh), điện toán, chương trình, (Chương trình yêu/ phiếu
đục thừa lỗ nhớ). Thậm chí, tác giả không ngại dùng nguyên cả những từ nước
ngoài như pastel (Tuổi dậy pastel phố lụa),aquarium (Kính
biếc trời aquarium phố)…
Lê Đạt
cũng rất thích "chơi chữ". Ông không ngại "chơi chữ Tây" đã Việt hóa. Lợi dụng
những âm tiết tương tự về cách đọc, sự có nghĩa của âm tiết ta, nhà thơ viết:
- Nắng
tạnh heo mày hoa lạnh
Mimôza
chiều khép cánh mi môi xa
- Tiếng
xắc xô cong đoạn tình mua lụt
Để xô lô
buồn khúc ruột xe lô
Kiểu chơi
chữ này không mới, cái khó là làm cho sự chơi không gượng. Có lẽ, thần tình hơn
cả là chơi chữ ta:
Hay em biến trong gương
một người giống em
trở lại
Má má môi
mà mỗi mãi xa
(Gương)
Đây là một bài thơ tình. Tác giả sử dụng sự đối xứng gương, để đối lập hình và
bóng, gần và xa, còn và mất…
Bóng chữ cũng
nói đến tính dục, nhưng không phải như thứ mắm ớt nhục dục phụ gia, mà như một
chiều kích trong con người và trong đời sống người:
- Tóc trắng tầm xanh qua cầu với gió
Đùi bãi ngô non
ngo ngó sông đầy
Cây gạo già
lơi tình
lên hiệu đỏ
La lả cành
cởi thắm
để hoa bay
(Quan họ)
- Bầy em én
tin xuân
tròn mẩy áo
Hội kênh đầy
chân trắng ngấn sông quê
Nắng mười tám
má bờ đê con gái
Cây ải cây ai
gió sải
tóc buông thề
(Sông quê)
Có thể nói, người ta gặp trong Bóng chữ cả dân gian lẫn hiện đại, cả Đông
lẫn Tây, cả nhất thời lẫn vĩnh cửu (vấn đề tuổi thơ, tính dục). Sự đa
tạp, dân chủ, "chung sống hòa bình" của những yếu tố dường như trái ngược nhau
này, trong một tác phẩm nghệ thuật, hiện nay được gọi là phong cách "hậu hiện
đại". Các yếu tố này ở Lê Đạt được gắn kết với nhau ở sự dùng từ một cách đặc
biệt ("nhịu nói") trong một cú pháp - đặc biệt ("ngọng nói") để tìm cách phát
nghĩa mới, một không gian thẩm mỹ cho thơ.
Bóng chữ, như
vậy, không là một không gian thẩm mỹ khác nhau, xếp chồng hoặc bao hàm nhau; đó
là một thứ không gian nhiều chiều, không gian cong, phi Euclid. Như
một chữ (hình) được chiếu dọi từ nhiều nguồn sáng đặt ở những phương vị
khác nhau, tạo ra nhiều bóng đổ vào nhau, lồng vào nhau. Từ đơn nghĩa trở thành
đa nghĩa, đơn mạch trở thành đa mạch. Những luồng sáng giao nhau tạo thành sự
tán xạ, sự nhoè nghĩa, đôi khi tạo thành mê lộ làm lúng túng những khách
tham quan thẩm mỹ vốn quen được hướng dẫn. Điều có lẽ phù hợp hơn với bạn đọc
hiện tại thích dân chủ và muốn được làm kẻ đồng sáng tạo với thi nhân.
Nhân đây cũng nói về sự khó hiểu của thơ Lê Đạt.
Điều đó, như trên đã nói, trước hết là ở tính nhiều chiều của không gian thẩm mỹ
còn chưa tạo ra được một lớp người đọc của mình. Người đọc còn quen với
thơ tải cảm đơn thuần, thơ phát nghĩa một chiều. Bài thơ như một bình năng lượng
có thế năng lớn. Độc giả chỉ việc mở kênh và chờ năng lượng từ bình chảy vào
mình. Bóng chữ là thơ gợi ý, gợi cảm, nên người đọc phải tự dấn
thân vào kỳ trận chữ. Ở đây, ấn tượng thẩm mỹ là phi hình thể. Hơn nữa, thơ xưa
là "dĩ ngôn chí", thơ công cụ, gói gém một tư tưởng, một triết lý, một tôn giáo…
Đọc thơ là quá trình vượt qua rào cản ngôn ngữ để đến với những lý tưởng này. Có
người, quen với cách đọc trên, bóc mãi các lớp vỏ ngôn từ mà không thấy cái nhân
tư tưởng thơ Lê Đạt đâu, nên đã coi như bị nhà thơ đánh lừa. Thực ra, sự hấp dẫn
của Bóng chữ không phải ở tư tưởng, triết học, tôn giáo bên ngoài, được
chất lên xe tải của chữ.
Ở ngay bên trong mạch I.C. của chữ, mỗi chữ phát nghĩa như một con rệp điện tử.
Ở Bóng chữ, ta thấy một nỗ lực cải tiến vật liệu, thay đổi công nghệ chữ.
Hiện nay, người ta đang gia tăng sức bền, độ nhẹ, độ truyền dẫn của vật liệu
(tức tạo ra một vật liệu mới) bằng cách phá vỡ cấu trúc và tái cấu trúc tinh thể
của vật liệu. Sự phá vỡ ngữ nghĩa tiêu dùng để tạo thành một ngữ nghĩa khác, sự
phát nghĩa nhiều chiều, tính bất định của không gian thẩm mỹ mà Lê Đạt đang theo
đuổi phải chăng có thể coi cũng là một tư tưởng, một thẩm mỹ? Trên con đường
chông gai nhưng đầy hấp dẫn đó không phải lúc nào Lê Đạt cũng thành công. Nhưng
thiết tưởng đôi lời cổ vũ đối với người vận động viên chạy đường dài vùng bán
sơn địa kia cũng là một thuần phong mỹ tục đáng khuyến khích.
Hà Nội, tháng 4/2008
Đỗ Lai Thuý
Người vác Thập giá Chữ
Võ Thị Hảo
Vâng, chữ là một cái gì đó nặng nhọc tương tự một cây thập giá.
Khi đó là một sự lựa chọn.
Sự lựa chọn giữa thẳng lưng mà bước hay khom lưng. Giữa việc nói dối hay nói
thật. Giữa việc chấp nhận lừa mỵ đồng loại để hưởng lợi, hay nói thật để bị đày
đoạ trên cây thập giá?
Người cười
Tôi nhớ Lê Đạt.
Tôi thường băn khoăn về tiếng cười của ông.
Người ta nói ông có tiếng cười vô tư và sảng khoái. Nhưng tôi thì không nghĩ
vậy.
Tôi nghĩ ông đã phải khóc rất nhiều trong tim rồi nên ông mới phải cười như vậy.
Ông luôn cười thành tiếng. Và mắt cũng cười.
Mắt cười và miệng cười cũng chưa thể khẳng định được rằng ông có vui không.
Có thể vô tư chăng? Một người đã từng viết cách đây mấy chục năm “đem bục
công an đặt giữa trái tim người” để phản ánh thực trạng xã hội lúc đó, để
rồi bị kết án và bị đày ải. Để rồi những đứa con tinh thần của họ bị “kết án tử
hình”.
Hơn ba mươi năm mang trên mình một chiếc “gông” mặc định, không thành văn - mà
ai cũng răm rắp thực hiện rất mẫn cán: không được phép xuất hiện trên văn đàn.
Và phải đi cải tạo.
Với văn nhân thi sĩ - cái số kiếp sinh ra để chia sẻ, để làm một con chim báo
bão cho đồng loại, mà không được xuất hiện, bị nghi kỵ, đến thân quyến bạn bè
cũng bị tổn hại, thì có khác gì bị đóng đinh câu rút về tinh thần trên cây thập
giá!
Tôi không chứng kiến cái thời ấy.
Nhưng tôi đã chứng kiến ngoài xã hội, trong giới xuất bản, khi tôi mới ra
trường, thấy hai ông hàng xóm chửi mắng nhau, thì một ông chửi ông kia “Mày là
đồ Nhân văn-Giai phẩm!”.
Với nhiều người lúc đó, chửi nhau thế là sự xúc phạm cùng cực. Còn hơn thế, đó
là cả một sự đe doạ. Có thể mang lại tai họa cho người bị chửi.
“Là đồ Nhân văn-Giai phẩm”- nghĩa là cái đồ tha hồ bị thiên hạ phỉ nhổ, bị đi tù
và đi lao động cải tạo. Nhẹ nhất thì cũng là nghi kỵ và bị treo bút. Rồi ngay cả
việc con cái đi học hành cũng bị gặp khó khăn vì lý lịch của bố…
Thì đấy, bao nhiêu đồng nghịệp và bạn văn, đã chọn con đường xỉ vả mạt sát các
ông để biểu diễn lập trường, để kiếm miếng ăn và chỗ yên thân. Một số người cũng
được trọng dụng. Dù ai cũng biết họ đang nói dối.
Rồi vài chục năm sau, khi làn gió Đổi mới đến. Thế gian dâu bể. Cái được gọi là
hay của ngày hôm qua có thể lại là cái dở của ngày hôm nay. Cái ăn được của ngày
hôm qua có thể lại chỉ thành một cọng rơm khô trong miệng. Thì một số đồng
nghịêp đó lại quay bút và nói ngược lại. Họ nói ngược lại cũng giỏi lắm. Vì đã
thành nghề mất rồi.
Thời nào thì những kiểu đồng nghiệp kiểu ấy cũng có cách hái lượm của họ. Không
biết họ có vinh thân phì gia lắm không, chỉ biết đa phần họ đã bội ước với văn
chương.
Nhưng đó là cách sống dễ nhất.
Chỉ còn những văn nhân như Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu Đang và
một số đồng nghiệp hiếm hoi của ông đã không chọn con đường khác. Họ lẳng lặng
nhấc cây thập giá với những chiếc đinh lên vai tứa máu, lặng lẽ đi tiếp hành
trình của mình, coi văn chương là thánh đường của sự thật và lòng tự trọng
và cái đẹp.
Lê Đạt, hơn thế, còn cặm cụi làm phu chữ. Ông nhận ra Bóng chữ sừng sững bao phủ
lên cuộc đời. Và ông sống dưới Bóng chữ, tôn kính và thờ phụng.
Khi thờ phụng, ông lại cặm cụi cách tân. Ông không chấp nhận những cái vỏ, những
rương hòm quá chật chội và nhàm chán.
Khi vác thập giá với những chiếc đinh đau buốt đâm vào vai, bước lên Bóng chữ,
Lê Đạt cười hay khóc?
Thế gian dâu bể
Người làm ra, viết hoặc chỉ đọc Nhân văn-Giai phẩm thôi, thì đã có một thời được
liệt vào những kẻ phản động. Những kẻ bị “rút phép thông công”. Những kẻ bị chối
bỏ. Những kẻ dường như không có quyền làm người, vì họ đã bị liệt vào hàng ngũ
bọn phản động nguy hiểm nhất!
Tôi không chứng kiến Nhân văn-Giai phẩm.
Nhưng sau này, tôi vẫn kịp thấy thi sĩ Phùng Quán đi phát rừng trồng ngô khai
hoang ở Thái Nguyên. Tóc búi và guốc mộc. Tác giả của “Bút giấy tôi ai tước
đoạt đi / Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá”dùng sức vóc học trò mảnh mai của
mình ra chống chọi với những thâm sơn cùng cốc và muỗi rừng cùng những trận sốt
rét. Thi thoảng ông viết lời cho truyện tranh của các nhà xuất bản, ký một cái
tên lơ vơ nào đó để lấy vài đồng nhuận bút còm sống qua ngày.
Tôi đã gặp Nguyễn Hữu Đang. Người anh hùng một thời giang tay gánh vác sơn hà,
tác giả của khán đài Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945 ngày ấy. Khi tôi gặp, là một
ông già sống heo hút trong một căn buồng, cô đơn và nghèo khó. Phùng Quán có kể
với tôi rằng, ngày trước, Nguyễn Hữu Đang đã từng phải đi quét lá, bắt cóc nhái
và nhặt vỏ bao thuốc lá, ống bơ… đem đổi lấy lương thực đắp đổi qua ngày.
Tôi đã đến Quang Dũng. Và vợ ông khóc mà kể rằng rất nhiều năm ông không đủ cơm
ăn. Ông là người cao lớn và một nắm gạo không đủ để lấp dù lưng lửng cái bao tử
hào sảng của tác giả những bài thơ hào hùng như “Tây Tiến” ấy vậy. Những cây lớn
ở hồ Thiền Quang đã nhiều lần chứng kiến nhà thơ hào hoa ấy vác bao tải đi quét
lá, run rẩy trong chiều đông đói rét, trong lá vàng tơi bời rụng đến kiệt cùng
và những câu thơ chôn chặt trong lồng ngực như muốn vỡ.
Tôi đã gặp Hoàng Cầm. Con người đa tình sinh ra để yêu ấy khi gặp tôi, chỉ còn
biết đưa tay lên ôm lấy bộ ngực gầy còm, vừa đọc thơ, vừa nói vừa thở dốc. Đôi
chân teo lại run rẩy thi thoảng lập cập đi trên đường.
Và Trần Dần. Ông mất đã từ lâu lắm. Tôi không kịp nhìn thấy ông. Nhưng ông sống
lâu đến nỗi vừa rồi một tập thơ của ông suýt bị chết nghẹt trong vòng kiểm
duyệt. Hơn năm mươi năm sau. Việt Nam và Mỹ là hệ tư tưởng trái ngược, hai kẻ
thù mà còn bắt tay nhau thân thiết và trở thành đối tác. Phim Mỹ tràn ngập màn
ảnh Việt. Mà người Việt ta da vàng máu đỏ lại nỡ cư xử với nhau như vậy sao? Cái
gì không ưa thì cấm. Người Việt ta rất giỏi trong một số việc. Xem thế, mới
biết, làm người Việt Nam khổ biết bao nhiêu!
Và tôi đã gặp Lê Đạt. Nhiều lần. Trời cho ông khoẻ mạnh dẻo dai. Nhưng mà lần
nào cũng cảm thấy đau đau thế nào ấy khi nghe tiếng ông cười.
Tôi đã viết về họ. Các bậc thi nhân kể trên. Viết mà biết rằng mình phải kìm
lòng biết bao nhiêu. Biết rằng mỗi họ là một vũ trụ những nỗi đau chồng chất và
lòng tự trọng của người nghệ sĩ khi tự vác cây thập giá để trung thành với những
chuẩn mực của cái đẹp mà họ đã bày tỏ cùng bạn đọc.
Sẽ sống
Bây giờ thì Lê Đạt đã bước sang một bầu trời khác.
Tôi không lạ. Chỉ tiếc và xót.
Chỉ tiếc thời tráng niên đã qua của những thi nhân. Đất nước càng nghèo nàn lạc
hậu càng vô cùng cần những thương hiệu văn hoá. Nhưng nhiều tài năng có tâm, có
tài đã bị chối bỏ bằng một cái cớ dở ẹc nhưng chết người!
Với Lê Đạt, cái chết cũng nhẹ nhõm như một cuộc dạo chơi thôi.
Lê Đạt, cũng như Trần Dần, như Phùng Quán, như Văn Cao, như Nguyễn Hữu Đang, như
Quang Dũng… rồi sẽ còn sống rất lâu. Với những nỗi đau của họ. Với những trắc
trở họ mang vì lòng tự trọng và lòng yêu văn chương. Vì chút khát vọng về tự do
mà đã dám rỏ nước mắt cho “những chân trời không có người bay” và “những
người bay không có chân trời” (Trần Dần).
Thi ca và văn chương Việt Nam sẽ đi về đâu, công chúng sẽ trông vào ai đây, nếu
không có những người dám Cười và Khóc cho một lẽ phải, và cho một vài thứ quyền
đương nhiên của loài người?
26/4/2008
Võ Thị Hảo
Hoàng Hưng
Bóng chữ động chân cầu
Lời Tác giả:
Đây là bài viết cho báo Lao Động, khi tập thơ “Bóng chữ” của Lê Đạt được ĐB Hội
Nhà văn phát hành (giữa năm 1994,) nhưng bài không được duyệt in (tuy lúc đó
người viết bài này là “Trưởng ban Văn hoá Văn nghệ” của báo). Có lẽ vì cái tên
Lê Đạt, tuy đã được “phục hồi” trong văn đàn nhưng vẫn chưa “hồi phục” trong xã
hội, và cả vì sự nghi kị với những cái “bóng” (lờ mờ, ẩn hiện, không rõ ràng,
tiềm ẩn những nguy hiểm chưa được checked!), nhất là “bóng chữ”…
Xin công bố bài này trên Hội Luận Văn Học Việt Nam để tưởng nhớ anh.
Sóng nước động chân cầu - cái động trực tiếp, động cấp I. Bóng nước động chân
cầu - cái động gián tiếp, động cấp II. Cũng vậy, ai cũng biết động lòng người
xưa nay sức mạnh của “nghĩa chữ” ghê gớm lắm. Thế còn bóng chữ? Gần 50 năm nay
rồi, có một người kiên trì gan góc đi tìm con đường "động cấp II" của chữ.
"Bạn đọc trước khi bước vào bài thơ xin tạm để lại cách đọc tuyến tính thuần duy
lí ở ngưỡng cửa như người khách bỏ giày trước khi vào một trà thất Nhật Bản… Bạn
hãy thử để những hình ảnh những con chữ trong câu thơ dắt dẫn trên con đường tâm
thức ra khỏi lối đi ngữ nghĩa tiêu dùng một chiều quen thuộc hàng ngày". Lời
đề nghị thẳng thắn của Lê Đạt sẽ khiến không ít người dị ứng, song, chính đó là
phần góp ý nghĩa nhất của nửa đời người thơ Lê Đạt vào thơ hiện đại Việt Nam.
Thật ra cũng chẳng phải phát kiến của ông. Mallarmé cuối thế kỷ 19 ở Pháp đã
khơi mào một bộ phận thơ thế giới gần trăm năm nay đi theo con đường "chữ"
(thiết lập những tương quan mới của chữ, xây dựng những trường ngữ nghĩa mới,
mời người đọc tích cực cùng tham dự phát nghĩa với thơ). Còn ở ta, "nay hoàng
hôn đã lại mai lại hôn hoàng" (Nguyễn Du), "Chi chi chành chành… ù à ù
ập" đồng dao là gì nhỉ?
Lê Đạt nối những tia điện lập lòe trong truyền thống dân tộc vào đường cao áp
quốc tế, rồi hạ thế xưởng ông tạo ra "bóng chữ".
"Anh muốn làm con chim / xập xanh xòe cửa ngõ"
"Mưa rửa đền / Hoa tuổi trắng lau quên"
”Trời sáng ngần thân phố khỏa xuân"
"Đùi bãi ngô non / ngo ngó sóng đầy"
"La lả cành / cởi thắm / để hoa bay…”
Hàng chục câu thơ tài tình, gợi cảm, trẻ trung bất ngờ; dăm bài thơ nhỏ có cái
đẹp toàn bích cổ điển; tập thơ không chỉ cho người đọc những phút khinh khoái
khi bỏ giầy bước vào trà thất, những phút say lâng lâng âm hưởng của chữ làm
thắm lên cái duyên của đời, mà quan trọng hơn, nó cung cấp kiểu tương quan mới
của các chữ trong thơ - những "Ngã ba chữ" của Lê Đạt đã sáng tạo nên câu thơ
lập thể trong văn chương Việt Nam.
Những câu những bài ấy, có lẽ ông được ở những phút kì ngộ "người đẹp vỏ chữ
bước ra" sau rất nhiều đêm ngày "siêng năng" thủ một "lòng thành" chờ đợi. Cũng
dễ thấy là nhiều khi ông không đủ kiên nhẫn và lòng thành nên thay vì gặp tiên,
ông đã tự tạo một nàng Bích Câu cho mình, đẹp nhưng vẫn chỉ là tranh vẽ, hoặc vì
siêng năng quá mức mà câu thơ kì khu làm ngắt dòng cảm xúc đang dào dạt của
người đọc. Càng dễ thấy hạn chế của cái “động” bóng chữ vào chân cầu thực tại,
cũng như của nhạc điệu có vẻ “tại ngoại” yên bình trong thời đại bùng nổ khốc
liệt của chúng ta.
Dẫu sao, với tư cách một người đọc thơ, tôi cảm ơn ông về những phút hạnh phúc
hiếm hoi tận hưởng vẻ đẹp của chữ Việt, thơ Việt; với tư cách một người làm thơ
hậu sinh, tôi ghi ơn ông về bài học mê đắm và nghiêm khắc với nghề, về gợi ý
những khả năng kỳ diệu của con chữ Việt, về thái độ tìm thơ vào "giờ các con phe
đi ngủ”. Ôi cái thời sao lắm loại “con phe”…
6/1994
Trần Thiện Khanh
Trạng thái thơ Lê Đạt
Trời chỉ cho ông đủ tuổi để chơi chữ, làm phu chữ. Mà trong muôn nghề sống thì
làm phu chữ khổ nhất. Vô thường nhất.
Lê Đạt hiểu kiếp chữ, kiếp thơ chứ. Ông nhận mình mang thân phận “phu
chữ”, điều đó ai cũng rõ. Song, vấn đề quan trọng ở chỗ, câu ấy: nói rất đau,
hơn hết - nói rất đắt về nghề, về kiếp làm thơ, làm nhà thơ!
Ngờ rằng chỉ thơ của bậc quan tướng mới sướng. Chứ thơ Lê Đạt thì sướng nỗi
gì. Lê Đạt bịa ra từ “phu chữ ” để nói với chúng ta về kết quả không
công của nghiệp viết.
Thi tài cộng với bản lĩnh thành Lê Đạt. Lê Đạt cộng với chữ nghĩa thành nhà thơ.
Nhà thơ Lê Đạt chịu đựng 10 năm biếm chích và ngồi dai mấy chục năm giời giữa
thanh thiên bạch nhật chỉ để được xoá nợ tư tưởng hệ. Tôi nghe nói, làm gì có
giải thưởng dành riêng cho ông. Vì xét theo đẳng cấp ông chỉ thuộc hạng phu
chữ. Nếu chiếu cố xếp lên hạng sĩ thì cũng vào loại cuồng sĩ.
Hạng “bất cơ” chuyên “gây sự”.
Hầu hết các văn nhân, thi sĩ tiến bộ cùng thời với Lê Đạt đều đứng vào hàng ngũ
những kẻ cuồng sĩ. Nguyễn Tuân ngông để chứng tỏ mình tài hoa, uyên bác.
Nhưng Nguyễn Tuân chỉ có thể ngông tự do trên mảnh đất tuỳ bút, ngông trong việc
ăn uống, xử thế với bạn văn, mà lại không thể xưng bá ở đất thơ. Có người ngông
chỉ để khẳng định một cách sống, một cách viết độc đáo của mình. Họ ngông để tỏ
rõ cái sự hơn người, khác người. Loại ngông này chẳng chết gì ai. Có người ngông
để thể hiện thái độ sống, thái độ viết, loại này hay va chạm nhất, dễ ăn đòn
nhất. Nguyễn Tuân thuộc loại đầu. Các thành viên của nhóm Nhân văn - Giai phẩm
thuộc loại sau.
Thoạt nhìn tướng mạo Trần Dần, tôi cũng đoán ông ngông. Trần Dần “thích viết cái
chưa biết”, tự nguyện “đi với ma quỷ”, đôi khi táo bạo đến “vuốt râu hùm”. Trần
Dần tuyên bố: “Tôi đứng tuổi nhưng không đứng gió”, “Xây một tập thơ để phá
một nhà tù”. Chỉ tính riêng cái sự Trần Dần cùng văn hữu ráo riết phê tập
thơ Việt Bắc của Tố Hữu đã ngông rồi, lại còn tham vọng “đào
mồ chôn thơ tiền chiến” nữa
chứ. Ngông thật. Làng thơ chưa từng gặp những ý nghĩ lạ đến thế. Người ta khen
thơ Tố Hữu chẳng hết, Trần Dần.. .cả gan chê thơ ông, thì loạn chứ còn gì. Không
cho Trần Dần làm thơ tự do, ông cứa cổ tự tử. Tột bậc ngông chỉ đến thế mà thôi.
Hồi xưa ở bên Tàu, Khuất Nguyên ngông nên nhảy xuống sông Mịch La để tỏ tiết.
Ông ngạo nghễ hát: “Cả đời đục một mình ta trong / Cả đời say một mình ta
tỉnh”.
Với Phùng Quán thì ngông biểu hiện ở sự cứng đầu, cứng cổ: “Dù ai cầm dao doạ
giết / Cũng không nói ghét thành yêu”. Ngông ở Phùng Quán còn biểu hiện ở
những ý nghĩ trái lẽ thường: “Nếu kiếp sau tôi được tái sinh / Tôi nguyện ước
tái sinh làm cây chổi”. Chất ngông trong Phùng Quán lộ rõ ở cái dũng khí
“đấu sự dối trá” “đấu cơ chế quan liêu” để bảo vệ sự thật: “Sét nổ trên đầu
không xô tôi ngã / Bút giấy tôi ai cướp giật đi / Tôi sẽ dùng dao viết văn lên
đá”. Phùng Quán ngông, một mình “vượt Côn Đảo”. Hỏng ngay từ khi còn ít tuổi
đã dám gian díu với các bậc đàn anh “bất mãn”.
Hoàng Cầm ngông vì ưa làm chuyện lạ, chuyện ngược đời. Chẳng hạn, bút danh Hoàng
Cầm rất trái khoáy. Chuyện thế này: Gia đình Bùi Tằng Việt làm thuốc, cái vị “cỏ
hoàng” đăng đắng có xa lạ gì với ông đâu. Kể cũng tội cho ông quá, lại
còn thích cái cây đàn hoàng tử nữa chứ . Thì đây, ông chọn ngay cái bút
danh Hoàng Cầm cho đỡ nhớ. Sự ngược đời thứ hai ở Hoàng Cầm có lẽ nằm trong sự
kiện: Giời đầy gã lãng tử Hoàng Cầm xuống trần gian và buộc anh chàng choai
choai 5, 6 tuổi đầu phải ngày đêm tương tư một “chị lớn tuổi”. Liệu có ai giống
với Hoàng Cầm: Biết rõ không có loại lá diêu bông nào trên đời cả, nhưng lại cứ
đi tìm lá diêu bông hời với mong ước viển vông lấy chị làm chồng? Người ta bảo
Hoàng Cầm ngông khi vẽ cảnh “tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa”. Kể cũng
phải. Hoàng Cầm từng tham gia làm Giai phẩm, Nhân văn…
Phan Khôi ngông từ năm 1928, ngông so với thơ cổ. Phải biết ngông thì ông ấy mới
chịu chơi mới đám cuồng sĩ chủ trương tự do cho văn học.
Người ta từng kháo nhau: Lê Đạt có kiểu cười lạ lùng, chỉ bậc quái kiệt mới có.
Điều ấy, đôi khi do người ta nhầm hoặc giàu tưởng tượng. Dưng mà, giá có danh
hiệu “anh hùng thơ”, “anh hùng lao động thơ thời kì đổi mới” , hoặc nghệ nhân
chữ thì phong cho Lê Đạt kể cũng đáng lắm.
Cứ bạo dạn đánh thức ông dậy mà hỏi. Tôi tin chắc ông ấy buồn buồn mà kể cho
nghe, trước và sau ông đã có biết bao người gục ngã vì không chịu nổi gió sương
khắc nghiệt. Gió sương nào vậy? Thì thời gian và qui luật nội tại của văn chương
tạo thành gió sương chứ sao nữa. Không có “sức khoẻ” thì phơi xác thơ trên cánh
đồng hoang vu chữ nghĩa.
Chẳng phải thế sao, Lê Đạt không thể phung phí “sức khoẻ”. Ông biết dùng nó một
cách nghệ thuật để đi những chuyến xa. Lê Đạt đi chậm chạp từng bước thơ, bước
chữ. Tôi đồ rằng, nếu buộc Lê Đạt tham gia chạy đua trong cuộc thi “ Olympic
chữ” thì Lê Đạt cầm chắc sự thua. Thua khổ thua sở ấy chứ.
Lê Đạt khẳng định chắc chắn: “Người nhẹ dạ hiểu nhầm rằng tài năng thơ tỉ lệ
thuận với tốc độ thi công” và “sáng tác thơ có nguy cơ trở thành một cuộc
thi tốc độ trong một cuộc Olympic chữ (…) người làm thơ phải thường xuyên tạo
cho mình một trạng thái thơ”.
Vậy trạng thái thơ Lê Đạt ra sao?
Nhà thơ lao động trên chất liệu ngôn ngữ, sáng tạo ra ngôn ngữ. Cho nên,
nói tới trạng thái thơ tức là nói tới trạng thái chữ, trạng thái tồn tại của tín
hiệu chữ *).
Trạng thái 1:
Chữ bụi.
Trước kia ông viết thơ vì bức bách. Ông viết ngông để giải toả bức bách của
mình. Về sau, ông tiếp tục viết thật ngông để khoe cái sự sành chữ, sành thơ của
mình, Lê Đạt là một tay chữ có hạng.
Vậy, mà vẫn có một số người hiểu lầm, hiểu phiến diện luận điểm “phu chữ”
của Lê Đạt. Đại ý Lê Đạt muốn nói ngoài những chữ do cực nhọc mới có, kẻ viết
còn có những “câu thơ bụi”, những câu thơ “nhặt được” dọc đường làm phu. Nói đến
thơ Lê Đạt ắt phải nói đến trạng thái thơ “bụi”. Thơ bụi khác với thơ sang, ở sự
lấm lem, từng trải của nó. Thơ bụi tự nhiên mà bật ra, tự nhiên mà có. Dĩ nhiên
để có cái tự nhiên ấy, phu thơ phải tích luỹ vốn sống, vốn nghề. Lại thêm cái
nội lực dồi dào góp sức nữa thì chữ cứ tràn ra,vụt đến thôi. Thơ bụi của phu thơ
khác với thơ đẹp của người nhàn nhã ở vẻ mộc của chữ.
Mở đầu tập “Bóng chữ”, Lê Đạt “xưng danh”:
Phó thường dân
phố nhỏ vô danh
vô giai thoại
Thành tích
mấy trang giấy sờn
mấy câu thơ bụi
núi Vô Sơn
Lê Đạt ý thức rõ phận thơ, trạng thái thơ của mình. Các câu chữ ở “Xưng danh”
không có dáng vẻ gì cầu kì, mới mẻ. Chữ nào cũng rất thường, cũng gợi ra cái nhỏ
bé, cách xa. Thơ bụi gây ấn tượng đối với độc giả chỉ ở sự tụ họp tự do của chữ
với mục đích truyền đạt một thông điệp đời tư nào đó. Chữ bụi không gánh vác
nhiệm vụ tuyên ngôn một sứ mệnh nào của người thơ. Do đó nó không được nhà thơ
“trang điểm” màu mè. Đa phần chữ bụi tồn tại trên ý nghĩa trần, nghĩa “tiêu
dùng”, nghĩa phổ thông của nó.
Bỏ việc
lang thang
vào Nam
ra bắc
Cắt tóc
đi tu
nhưng quá nặng nghiệp đời
Thơ bụi
nhằm vào đời sống thực, kể chuyện thực một cách tỉnh táo. Chữ bụi thường “ít
tuổi”. Chỉ có bóng chữ mới “nhiều tuổi” và có “vân chữ”. Phải chữ nhiều tuổi mới
biết đổ bóng, mới biết cách tạo ra cái bóng. Bóng chữ tương ứng với sự thăng hoa
của đời con chữ. Còn chữ bụi sống thật giản dị trong bài thơ. Chữ bụi chưa biết
đến sự đổi đời lần nào. Chữ bụi sống nhờ trong thơ, sống mượn lời nói có tính
thơ. Nhà thơ cho nó sống thế nào thì nó sống thế ấy. Ví dụ:
Ngày
nhỏ
cha tôi dẫn đầu
lũ trẻ chăn trâu
Phất
ngọn cờ lau
Vào
rừng Na Lương đánh trận
Mơ làm
Đề Thám
Chữ bụi đến với nhà thơ bất kể lúc nào. Nhà thơ sẵn sàng tiếp nhận chữ bụi mọi
lúc. Còn bóng chữ lại đến với nhà thơ khi nhà thơ lao động trên cánh đồng chữ,
khi “giao tiếp với chữ”. Những câu hay, từ đắt trong thơ Lê Đạt, chỉ Lê Đạt mới
có, thì thuộc về bóng chữ. Còn những chữ, những từ ai cũng thấy, ai cũng quen
thì thuộc về chữ bụi. Đoạn thơ vừa dẫn trên, toàn chữ bụi cả. Không ai đi khen
tài năng sáng tạo chữ của Lê Đạt mà lại bám vào những chữ phổ thông ấy.
Trạng thái 2:
Bóng chữ.
Bóng chữ
thoát xác từ chữ phổ thông. Nó có cái hồn vía riêng, không dễ nắm bắt. Nói đến
bóng chữ tức nói đến những chữ tài hoa, do nhà thơ lao động cật lực mới làm ra
được.
Nắng rũ
áo mộng đò neo bến nhổ
Lá bỏ
cành trời rứt én xanh lìa cây
Chiều
ngậm mãi một lối chim rời tổ
Ga Vọng
thu
khuya ai xổ một hồi còi
Lê Đạt bạo
khi dụng chữ “xổ”. Công phu tìm chữ của tác giả được giời đền trả có mỗi chữ ấy
thôi. Từ “xổ” đa nghĩa, gây ấn tượng mạnh. Từ ấy cộng hưởng về âm thanh với các
chữ “tổ”, “một hồi”. Chữ “xổ” diễn tả sự xuất hiện đột ngột, dồn dập của âm
thanh bất kể cảm giác, cảm nhận của người nghe, người ở lại. Nó vẽ ra trạng thái
rùng mình của không gian để diễn tả cái bước chân thoăn thoắt lạnh lùng của
người đi. Chữ “xổ” còn ấn giấu cả cái tình trạng bất lực không níu giữ được của
người ở lại và sự rời bỏ, thoát vượt không gian chật hẹp, và nghèo túng của
người đi. Bao nhiêu ngậm ngùi, bối rối, bao nhiêu hụt hẫng chơi vơi đổ thành cái
bóng của chữ đó. Từ Bóng chữ vừa chỉ chữ ở trạng thái có hình tướng, vừa
chỉ trạng thái không có hình tướng của nó. Bóng chữ hiện ra theo sự qui chiếu
của người đọc. Chúng ta quen với những hình chữ, mặt chữ có tính cách phổ thông
nên khi tiếp xúc với nó cảm thấy bình thường. Nhưng khi gặp bóng chữ rất lạ thì
chúng ta sẽ cảm thấy chữ có hồn vía. Người đọc truyền cảm giác, cảm nhận vào bên
trong từ ngữ, tuỳ theo mức độ đồng cảm, thức nhận của anh ta và tuỳ thuộc vào
năng lượng tiềm tàng của bản thân chữ được phóng thoát đến đâu mà ta có thể thấy
hay không thấy bóng chữ. Ý thức và vô thức của nhà thơ sinh ra chữ. Bóng chữ
sinh ra từ chữ. Bóng chữ gồm cả cái phần sáng và phần khuất sau nó. Độc giả có ý
thức tìm ra bóng chữ, nhưng trên thực tế việc nắm bắt bóng chữ không hề đơn
giản. Chính nhà thơ không phải lúc nào cũng kiểm soát được trạng thái chữ, trạng
thái tồn tại của tín hiệu chữ.
Lê Đạt
thường tạo ra mối liên hệ bất định giữa các chữ. Bên cạnh ý thức sáng tạo ra
chữ, ông còn tìm vào vô thức để tạo ra bóng chữ, để mở mang biên cõi của nghĩa.
Giả định thế này: Nhà thơ lấy chữ làm công cụ, phương tiện để lao động, chợt anh
ta bừng ngộ chọn được con chữ mà mình tâm đắc hoặc chợt thấy loé lên một con chữ
nào đó có âm vang, nhịp điệu đặc biệt, có sự lung linh huyền ảo về nghĩa, ta nói
anh nhìn thấy bóng chữ. Nói đến bóng chữ nhất thiết phải nói đến những chữ xuất
thần, ám ảnh nhà thơ. Nhà thơ bị từ ám sau đó mới tạo ra bóng chữ. Chỉ nhà thơ
chơi chữ, nghiệm chữ mới biết tới bóng chữ. Chỉ những nhà thơ có ngôn ngữ riêng
mới có bóng chữ. Chẳng hạn:
- Bờ
cầu u ơ nắng đỏ
Nước
ngực triều dâng con nhớ
Phấn
vàng chim thỏ thẻ
mơ non
- Em về trắng đầy cong khung nhớ
Mưa mấy mùa
mây mấy độ thu
Ở những câu thơ trên chữ được sống nốt đời vô thức của mình. Nó được chủ động
hơn, tinh quái hơn trong việc tạo nghĩa. Điều này ở chữ bụi không hề có. Chữ bụi
thường chỉ truyền tín hiệu, thường tải một vài nét nghĩa nào đó thật gần gũi với
giao tế hàng ngày.
Bát đĩa xô nhau vỡ
Cha tôi nằm thở dài
Anh em tôi bỏ cơm
Hai đứa dắt nhau ra đường tha thẩn
Thật khó để cắt nghĩa rạch ròi trạng thái bóng chữ. Nhưng có thể ước đoán về cơ
chế tạo ra bóng chữ như sau: Nhà thơ làm biến dạng phương diện âm thanh của từ,
làm thay đổi vận mệnh ngôn ngữ. Chúng ta không dễ nhận ra tập quán sử dụng ngôn
ngữ của một cộng đồng trong những “từ ngữ chuyên môn” của nhà thơ.
Bóng chữ không thể có ở những từ quen dùng. Bóng chữ xuất hiện ở từ ngữ mới, ở
mối liên hệ bất định giữa các từ vốn không gần nhau. Nhà thơ tạo ra từ mới tất
phải có âm mới, kéo theo nó những nét nghĩa mới hình thành. Bóng chữ với tư cách
một sản phấm sáng tạo độc đáo của nhà thơ sẽ được khu biệt về mặt âm lẫn mặt
nghĩa so với loại chữ trong từ điển.
- Chấp chới đèn lên tóc phố
Gáy nêông chiều lả liễu lam bay
- Em vụt đến như mảnh tinh cầu vỡ
Ơi con chim ức lửa môi đòng
Thả đỏ đốt xứ đồng không anh nhớ
Một thoáng đào
nhen mấy độ hồng
Sương khói Bích Câu chiều
ai có giáng
Bóng chữ có âm vang, có nhạc điệu:
Anh rình trắng nghìn trăng nghiêng ngõ mộng
Bước thị thơm chân chữ động em về
Bóng chữ không khoác lên mình chiếc áo cũ kĩ mà cộng đồng mặc vào cho nó. Bóng
chữ khước từ thói quen dùng chữ của tập thể, nó không chấp nhận một qui tắc do
cộng đồng người ấn định cho nó. Chỉ có sự giải phóng ngôn ngữ, lời nói mới tạo
ra bóng chữ. Nói theo cách của Nguyễn Đình Thi thì bóng chữ “toả ra xung
quanh nó một vùng sáng động đậy”. Nhà thơ tạo ra được những nét nghĩa mới,
nét nghĩa lạ cho con chữ thì đồng nghĩa với việc tạo ra bóng chữ. Bóng chữ không
bị ép chặt vào khuôn ngữ pháp nào, bởi nó là tinh thần của chữ, sự sống phái
sinh của chữ. Bóng chữ tương ứng với ánh sáng của chữ, hình thái sống động của
chữ. Bóng chữ để lại dư âm vang xa hơn chữ bụi.
Anh tìm về địa chỉ tuổi thơ
Nhà số lẻ
phố trò chơi bỏ dở
Mộng anh hường
tim môi em bói đỏ
Giàn trầu già
khua
những át cơ rơi…
Nói theo cách của Saussure, thì Lê Đạt đã tạo ra một hình tượng ngôn ngữ sống
động, gồm cái biểu hiện độc đáo và cái được biểu hiện đầy bất ngờ. Với thơ Lê
Đạt ta đã biết đến sự lên ngôi của con chữ.
Âm lạ phố ồn ào
oanh bỏ đợi
Liễu đầu cành
độc thoại đoạn trường xanh
Mấy chữ “đoạn trường xanh” hay hơn cả. Dĩ nhiên khuôn âm thanh của ba chữ
ấy gọi lại mặt nghĩa của bốn chữ “đoạn trường tân thanh” và “nỗi đoạn trường còn
sống còn đau” của Ngọc Hân công chúa. Lê Đạt cao tay chính ở sự chọn chữ này.
Ông khiến cho con chữ, câu thơ của mình hiểu thế nào cũng có nghĩa, có lí của
nó. Tức chữ của ông có cái bóng không ổn định. Người yêu đơn phương có thể tìm
thấy hình ảnh của mình trong đoản khúc bi thương trên. Kẻ khao khát tri âm cũng
có thể chia sẻ với Lê Đạt ở những câu chữ tài tình đó. Bất cứ ai nhận thấy tuổi
xuân vô cùng ngắn ngủi thì đều giật mình rồi đồng cảm với mấy chữ “đoạn trường
xanh”. Người tiếc nuối vì sự vội vàng càng thấm thía hơn nỗi “đoạn trường xanh”
đang đeo bám.
Nếu nói, thơ Lê Đạt tồn tại hai trạng thái - trạng thái chữ bụi và
bóng chữ -thì nên hiểu rằng, cách nói này, xét về thực chất chỉ nhằm nhấn
mạnh có hai kiểu từ vựng, hai loại chữ mà Lê Đạt dùng hoặc sáng tạo ra nó. Bóng
chữ là chữ được làm lại, sáng tạo lại, từ một cơ chế mới, một tâm thức mới. Do
vậy, bóng chữ có một chất mới so với thứ chữ nhờ đó mà nó được sinh thành. Chữ
bụi là chữ mộc, chữ chưa được gia công nhiều, chữ “nguyên chất”. Chữ bụi tồn tại
trước hết ở một phong khí xã hội cụ thể. Bóng chữ xuất hiện trước tiên trong
phong khí thơ, trong phát ngôn mang tính thơ.
Thơ đương đại nằm trong trạng thái bóng chữ hay chữ bụi?
Mỗi người một phách, riêng Lê Đạt nghiêng về trạng thái thứ hai. Và tôi nhớ mang
máng có đôi lần Lê Đạt cười hi vọng vì chợt thấy bóng chữ lấp ló phía trước mặt
mình.
Phú Thọ, 25/4/2008
Trần Thiện Khanh
*) Thơ
chắc chắn có nhiều trạng thái. Thơ Lê Đạt không phải ngoại lệ. Việc chỉ ra từng
trạng thái thơ, trạng thái chữ, trạng thái sáng tạo ra chữ của tác giả luôn mở
ra những phát hiện thú vị, bất ngờ. Trong khuôn khổ bài viết ngắn cộng thêm thời
gian không nhiều để kịp tham dự Hội Luận Văn Học Việt Nam, chúng tôi mới tạm
hiểu một vài trạng thái thơ, trạng thái chữ ở những phương diện hạn hẹp ấy.
Đỗ Kh.
Tôi chào một tiếng cười
Nhìn ra cửa sổ tôi thấy một bờ đê rất nắng.
Tôi nghe một tiếng cười.
Lần nào gặp tôi cũng nghe anh cười, không phải là một tiếng mà là một tràng dài,
đụng đâu cười đó mà có thể nói cuộc đời anh toàn là những vấp váp, tới được giải
thưởng cũng là một vấp váp, giờ không biết đám tang sắp tới còn những chuyện gì.
Thì cười nữa chứ sao.
Đó là lần chót tôi gặp anh vào năm ngoái tại căn nhà sau này của anh ở Hà Nội.
Lê Đạt vừa ra đi trong sáng sớm 21/4/2008 một cách bất ngờ.
Phần tôi thì ngỡ ngàng, tôi không nghĩ đến sự nghịệp thi ca của anh, hay là sinh
hoạt văn học trong một nửa thế kỷ, những ly kỳ. Tôi biết anh rất trễ, được 15
năm trở lại đây thôi, không có mấy dịp gần gũi, là một hậu sinh và chẳng có tư
cách gì ngoài cái trìu mến. Anh và tôi trao đổi lại chẳng về sáng tác hay học
thuật mà là những trôi nổi thế thái nhân tình.
Thì cười.
Tôi nghĩ là những năm chăn bò, anh nhìn thấy cả con bò cũng cười, nói gì người
chăn. Nhưng con bò cười cái gì đã khó mà biết, nói gì con người. Tôi không học
được, tôi không tập được, tập cũng chẳng được, học cũng chẳng được cái cười của
Lê Đạt.
Nhưng khi chẳng có gì ra gì, khi không sống được như phải sống, khi rộng lượng
và khi tha thứ, khi không đáng và khi nhân từ, thì anh chỉ cuời, cười rành mạch
và cười ra tiếng.
Ở Lê Đạt tôi nhớ, và tôi chào một tiếng cười sang trọng.
California, trưa 21/4/2008
Đỗ Kh.
Hà Nội, Chiều 21/4/2008
Thái Kim Lan
Ước lòng chữ trắng nhẹ tênh… *)
Đầu năm 1999, nhà Văn Hóa Thế Giới ở Berlin gửi xuống Muenchen cho
tôi ngót chục bài thơ, nhờ chuyển ngữ sang tiếng Đức cho tuần lễ văn hóa
Việt Nam tại Berlin vào cuối tháng 3 năm ấy. Như thường lệ không đắn đo, tôi sốt
sắng nhận lời.
Mãi sau này mới biết ra lẽ, cái duyên tại sao mình được chọn: Tác giả
những bài thơ là Lê Đạt.
Rồi cuộc dịch thơ trở nên một trận toát mồ hôi, chẳng biết nhà thơ đã
làm khổ chữ đến đâu, mà mười mấy năm sau thố lộ, chữ đã làm khổ nhà thơ đến
cả một tạ mồ hôi - chuyện ấy chắc… cũng thường cho Việt Nam nóng bức -
còn tôi, chưa bao giờ trong đời đã có một trận dịch bở hơi tai, một trận đụng
độ chữ nghĩa cam go đến thế, nhớ lại vẫn còn thấy… ê vai.
Thì có ngờ đâu mà kịp thủ thế - cứ tưởng thơ là thơ trơn lu, thế mà mới đọc
là va đầu ngay vào những con chữ kỳ lạ, những cấu trúc ngược, những cạm
bẫy của dấu nhấn, chấm phết, xuống hàng, bỏ lửng; những chữ ghép ra
khỏi mọi qui tắc, những chữ „con“ thành „cả“, „đại“ thành „tiểu“, „nghiêm” mà
đùa“, thanh mà tục - chưa thấy một chữ nào thật tục trong thơ Lê Đạt -
nhiều con chữ gói cả một nền văn học vào trong, mà khi được chuyển ra ngoại
ngữ, nó đánh mất tất cả khối lượng văn chương. Đọc thơ mà như đang rơi giữa
thinh không:
Tim ghép ngọt
góc cằn xuân bỏ hóa
Máu chửa hoàn hồng
tình cả dạy non
Mộng đằng ngà
bướm vằn son ăn mạ
Vô tâm
hay em ghép quả bồ hòn
(Ghép tim)
Tuổi lú lẫn
ngược nhầm ga trẻ dại
Hay ngây ngơ
không
biết lối về già
Tha thẩn chữ ngã ba
(truyền thần)
Rừng buồn bứt lá chim chim
Hỏi sim sim tím
hỏi bìm bim leo
Chiều gió cả
tiếng ngàn xưa khản lá
Thảm vàng khô
ai hóa những thư già
Ước lòng chữ trắng
nhẹ tênh cỏ lú
Chín kiếp chuyện đời
ú ớ
một tên em
(Cỏ lú)
Trận dịch
thơ trở thành một trận chiến truy lùng chữ nghĩa dở khóc dở cười, tôi
không biết tác giả ở phương nào để hỏi ông bao nhiêu là câu hỏi, nhưng biết rõ
cán cân đã hẳn nghiêng về đâu: cái gậy ảo thuật ngôn ngữ đã hất tung trái
cầu dịch thuật: một bên là tự do vùng vẫy bên kia là hai tay bị trói hai
lần cấm không được ra khỏi vòng chơi. Ba lần đưa bản dịch thử cho người bạn Đức,
ba lần đều nghe trả lời „không hiểu“. Đến lần thứ tư, tôi đành nhắm mắt dịch
liều, y như khi lái xe vào Paris, rơi nhằm Place de Concorde, có 16 con đường
túa vào nhau nơi bồng binh, nếu đi theo luật và tinh thần phần phải về ta kiểu
Đức thì sẽ đụng xe rầm rầm, cho nên muốn thoát thì đành phải nhắm mắt đạp ga
theo cảm tính của luật chơi „người sao ta vậy“, có nghĩa, tôn trọng mạng
sống là trước hết còn luật là chấp!
Chẳng đặng đừng phải chấp tất thôi, nếu „chữ chơi“ thì „chơi“ với chữ, mà trong
luật „chơi“ này trước hết, người chơi phải biết „chơi“ thật; có nghĩa tự do, có
nghĩa vứt hết mọi điều lệ ngôn ngữ, để nghiêm túc theo chính ngôn ngữ của người
đang „ngôn“ hay của chính „ngữ ngôn“. Ít nhất tôi đã đổi tư thế của mình - học
theo Lê Đạt trong vô thức - nửa phút trước khi quyết định đầu hàng, gửi trả lại
nguyên bản, bằng cách bỏ hết tâm trạng nghiêm trọng, tự ái, thả lỏng mình và
liều mạng dịch tiếp. Thế mà được việc, kết quả người bạn Đức đã hiểu. Có điều
tôi chắc rằng, nếu bây giờ đọc lại bản dịch - điều mà đã 10 năm nay tôi không
làm, thì có lẽ sẽ có… bản dịch khác, không phải đúng, chính xác hơn mà sảng
khoái hơn…
Tôi không chắc nhà thơ Lê Đạt đồng ý với tôi, như ông đã từng không để ý đến
những phiền toái ấy. Giờ đây chẳng còn dịp để bày tỏ điều này và còn những điều tha
thẩn chữ ngã ba khác vẫn là nỗi băn khoăn không dứt của người dịch:
Ví dụ „cái ga xanh ấy sót lại“ hay „xót lại“? – tôi đã nhận được hai bản khác
nhau gửi dến, do đánh máy sai theo giọng Bắc nhầm „S“ và „X“.? Dạo ấy tôi hỏi
các anh ở Paris bản nào và được xác nhận „sót lại“ là đúng theo tác giả và theo
bản dịch tiếng Pháp. Tôi cũng đã dịch „sót lại“. Nhưng nếu giờ đây dịch lại thì
tôi sẽ dịch „xanh xót lại“:
Đời tốc hành một ga xanh SÓT lại
Một góc tuổi mải tầu thơ dại mãi
Tìm nhà
quên mất số lớn khôn
hay:
Đời tốc hành một ga xanh XÓT lại…
Cái ga xanh ở lại, xanh đến xót xa khi chuyến tốc hành đã
vụt qua… Lê Đạt đã đi… đột ngột chuyến tốc hành! Có phải tự do của tôi là „xót“,
bây giờ xót xa, nhưng có một chữ „xót“ không? Hay „sót“ và „xót“ cũng chỉ
là „bóng chữ“?
Nhà thơ sẽ mỉm cười…
Như đã mỉm cười khi gặp tôi ở Berlin (Chúng tôi ở hai chương trình khác nhau tuy
trong cùng một tuần lễ văn hoá). Cuộc gặp đơn giản và tự nhiên, không khách sáo,
không nồng nhiệt mà bình thường với những nụ cười của Lê Đạt, hiền hòa thấp
thoáng trong sảnh đường. Vẻ người đôn hậu „nhà thơ không phải là nhà thơ“ hơn
dáng dấp ta thường chờ đợi nơi một nhà thơ mà cũng chẳng có chi ngạo nghễ tự hào
của kẻ „dissident“. Chúng tôi không đả động gì đến thơ. Nhà thơ không hỏi về
chuyện dịch thơ của mình (hiếm hoi lắm) và người dịch cũng không nhắc đến chuyện
„toát mồ hôi“. Có lẽ một phần chuyến đi sang Đức đã quá bất ngờ cho một nhân vật
của Nhân văn - Giai phẩm. Trong tất cả những chuyện trò không dứt, vẫn còn nghe
rúng động chuyện nhà thơ Lê Đạt ra khỏi Việt Nam, đến phút chót vẫn còn đấu
tranh ngoại giao giữa hai nước. Nỗi bỡ ngỡ bỗng nhiên „được thả cho đi“ còn rõ
trên cử chỉ của nhà thơ. Mà cũng có lẽ vì mọi sự bình thường, có gì đâu mà hỏi
han!
Tôi mang theo nhiều ấn tượng về tuần lễ Việt Nam tại Berlin, trong đó ấn tượng
về buổi gặp nhà thơ Lê Đạt, khá lạ lùng: cái cảm giác sống động được thấy bằng
xương thịt một người, nhưng lại nhẹ tênh như sờ một cái „Bóng“. Quả tình Lê Đạt
đã là cái bóng đứng đó với cô hướng dẫn viên Brigitte Kraffert, khi tôi
thấy lần đầu, so với cường độ mãnh liệt của cuộc chiến với thơ Lê Đạt mà tôi
trải qua trước đó.
Mà có lẽ chính vì cái bóng đơn sơ ấy mà có cuộc gặp lại lần hai chăng?
Lần này do tôi chủ động. Hóa ra thơ Lê Đạt đã nằm trong tiềm thức từ lúc nào.
Một lần đến Hà nội, tôi lang thang 36 phố phường. Qua hàng Đào, hàng Đường, đến
Lương Văn Can, rồi tình cờ lớ quớ ở một góc đường lao xao những xanh đỏ tím
vàng, những giấy là giấy; trùng điệp cửa hàng bán giấy vệ sinh, thùng giấy, xà
phòng, khăn tắm… Ơ kìa chẳng là:
Đầu phố Lãn Ông có cửa hàng tạp vặt
Đăng ký số 4210
đứng tên Lê Đạt
Nhớ xưa ba mươi năm
Cửa hàng quan niêm phong
Bút độc quân ông Lành tẩy uế
Tuổi sạch phục hồi bán giấy vệ sinh.
Tôi bắt đầu từ hàng thứ nhất, hỏi một hồi thì tìm đúng cửa hàng Lê Đạt. Người
nhà bảo ông đi dạo chưa về. Trở lại lần thứ hai, nhà thơ xuất hiện thật, sau
những núi giấy vệ sinh: bỡ ngỡ nhận ra người khách bất ngờ: „Lan đấy hả?“, nỗi
ngạc nhiên không quá một tích tắc là đã thấy nụ cười nhân hậu tiếp theo.
Những năm sau mỗi lần đến Hà Nội, tôi thường gặp nhà thơ với các bác các anh chị
trong Ban biên tập Tia Sáng cùng nhau đi ăn sáng hay ăn trưa. Buổi gặp thường
ngắn ngủi, vừa đủ nghe một bản nhạc, trao đổi vài tin tức, vài đề tài, hớp vài
ngụm nước trà, hay dừng nơi ly rượu vang. Lần cuối món cừu nướng nơi viện
Goethe, chuyện cũng vu vơ, nhẹ nhàng, chuyện chung chung giữa nhiều người. Nhưng
có một lần, giữa câu chuyện chung với nhà báo Văn Thành, đột nhiên nhà thơ Lê
Đạt quay sang nói với tôi, trong tư thế của một người đang tranh luận về một đề
tài – một đề tài ghiềncủa tôi , mà nào có bao giờ trao đổi điều chi với
nhau. Chứng tỏ nhà thơ đã chuyện trò „không lời“ với tôi từ lâu, từ cuộc gặp này
sang cuộc khác về cái đề tài ấy, bây giờ mới đi đến lời kết: „Này, điều mà moi thích
nhất trong đạo Phật, đó là tu cho được cái tâm bình thường!“, rồi tự gật
đầu: „Chính cái tâm bình thường, thật bình thường, mới là điều đáng nói, hay
lắm đấy!“
Tôi giật mình nhìn sang nhà thơ, thấy ông đang cười mỉm một mình, và giật mình
thêm một lần nữa, bất ngờ nhận ra – chính cái người không bao giờ ngờ đến –
chính người ấy lại chỉ cho tôi điều tinh yếu của đạo Phật, rõ nét hơn tất cả
những người chuyên cần trong đạo Phật, những Thiền sư, những nhà tu, những Phật
tử thông thuộc thiên kinh vạn quyển.
Giữa rừng hỗn mang từ nhà đến chợ, từ chợ đến trường, từ trường đến cấp cao và
cấp cao hơn, trong một thời mà những chữ như „hoành tráng“, „làm giàu“, đại
gia“, „hoa hậu“, „anh hùng cứu nước“, „buôn bán nhà đất“ hà rầm tràn lan khắp
nơi, ai ai cũng tìm cái hơn cái nhất, cái phi thường, cái ưu tú lấn sâu đến tận
nhà chùa, nhà thờ như một thứ bệnh thần kinh bên cạnh những thứ dịch cấp tính,
thì giữ được cái „tâm bình thường“ quả không dễ, lại cần thiết cho
cuộc sống an lành đạo đức đến nhường nào.
Chính nhà thơ Lê Đạt đã trực nhận điều ấy bằng nhạy cảm của nhà thơ, và có lẽ
suốt cuộc đời Lê Đạt đã „chơi thơ“ một cách nghiêm túc trên cái nền Tâm ấy. Đổ
hàng tạ mồ hôi bi kịch trên cái „bình thường“ ấy để xây Thơ và nhân cách nhà
thơ.
Thật sảng khoái để nhận ra: Con người ấy trong tận cùng bản chất keo sơn vẫn giữ
chất hiền triết Việt nam, dù thấm đượm Tây học.
Chỉ tiếc xót, có thể Lê Đạt sẽ cười và bảo „moi biết rồi“. Tôi
chưa kịp thú nhận với “chú Lê Đạt” rằng, ấn tượng của tôi về „bóng chữ“ không
còn là ấn tượng về hình hài cá nhân, ngay cả cái bóng cũng là cá thể.
Lê Đạt với cái Tâm bình thường đã hoà nhập làm một, trở nên điều gì phổ quát,
đại thể. Mỗi lần gặp, và cảm giác đó đã có thật trong những lần gặp, tôi có cảm
giác như đang ngồi dưới mái hiên của ngôi đình rộng thoáng hay trên thềm ngôi
chùa không tên, không cần bước vào trong, cũng không cần pho tượng, chỉ ngồi ở
hiên mà thấm đượm phong cảnh, trời mây, cả nhân tình thế thái, hong nắng và gió
hồn nhiên… Có thể với ly rượu vang và nhiều hoa, có thể dốc ngược bình, dốc luôn
cả bồ chữ văn chương mà vẫn bình an, hài hòa với nụ cười chơi với chữ.
Bởi một điều: Lê Đạt là nhà thơ của thế giới… bình thường, „ước lòng chữ
trắng nhẹ tênh“.
… Nhẹ tênh không chữ, thơ Lê Đạt đang mang Lê Đạt rong chơi sáng tạo như
tự bao giờ!
Muenchen, 26/4/ 2008
Thái Kim Lan
Lê Đạt - Nhà thơ hành trình về phía Mới
(Dân trí) - Nhà thơ Lê Đạt đang vào tuổi 80, nhưng gặp ông lúc nào cũng trẻ
trung lắm. Cái bắt tay rất chặt. Tiếng cười luôn nổ ran. Ông nói mọi chuyện, từ
nghiêm túc đến đùa cợt đều “nhẹ như không”. Có lẽ thế nên cuộc ra đi của ông vô
cùng nhẹ nhõm...
Ông vừa đi một cuộc
Tây Nguyên cùng nhà văn Nguyên Ngọc và mấy người bạn ở tạp chí Tia Sáng, ghé Hội
An thăm Đại học Phan Châu Trinh rồi bay về Hà Nội tối 20, còn khỏe re. Vậy mà
3h15’ sáng hôm sau 21/4 ông đã từ giã mọi người đi vào cõi thiên thu. Ông ngã
cầu thang lúc 10h đêm, đến và “đi” tại bệnh viện Việt Đức, Hà Nội, nơi mà nhà
thơ Việt Phương đã có lời gửi gắm.
Theo nhà thơ Hoàng
Cầm thì sau vụ Nhân văn giai phẩm, các “nhân vật” đều gặp cả khó khăn về vật
chất. Hoàng Cầm phải đi tô màu ảnh để sống, Trần Dần, Lê Đạt cặm cụi dịch sách
kiếm tiền. Nhưng Lê Đạt sống phóng túng hơn nhờ bà cụ có cửa hàng nên thỉnh
thoảng cho tiền. Mà phóng túng có lẽ là bản chất của Lê Đạt, đặc biệt ông rất
phóng túng tiếng cười, vì thế mà trẻ lâu chăng? Chính ông cũng tự nhận “không
biết lối về già”:
Tuổi lú lẫn ngược nhầm ga trẻ dại
Hay ngây ngơ không biết lối về già
Thơ thẩn chữ ngã ba…
Tôi đọc thơ ông đã
lâu, đọc cả thơ thời Nhân văn giai phẩm, rồi sau này đọc những tập thơ được xuất
bản trong thời kỳ Đổi Mới, thấy ông là người có Tư tưởng Mới. Ông luôn kêu gọi
cho cái mới. Xã hội mới. Thơ mới. Chữ mới… Tôi thích ông ở cái sự Mới ấy mà đâm
ra quý trọng, vị nể.
Có thời nhà thơ TMH
phê phán tập Bóng Chữ của ông, tôi có viết bài “luận chiến” trong đó bênh vực Lê
Đạt và các trường phái thơ mới lạ. Mà quả thực, Lê Đạt đã tìm ra một cách nói
cho riêng ông, nếu mới tiếp cận dễ cho là cầu kỳ, nhưng đọc kỹ lại hóa ra là một
cách thơ riêng. Tôi cứ nhớ mãi bài Át
cơ của ông:
Anh tìm về địa chỉ tuổi thơ
Nhà số lẻ
phố trò chơi bỏ dở
Mộng anh hường
tim môi em bói đỏ
Giàn trầu già
khua
những át cơ rơi…
Ta thấy ông rất nhiều
chữ mới.
Thế rồi ông cho ra
đời liên tục mấy tập thơ và văn. Tôi thấy ông suy nghĩ rất sâu sắc về văn
chương, đặc biệt là luận bàn về thơ như một bậc thầy. Ông gọi nhà thơ là "phu
chữ". Ông tìm "vân chữ" của mỗi nhà thơ. Cuộc hành trình thơ của ông là cuộc
hành trình về phía cái mới. Nhờ thế mà ông có lối nhìn bao dung độ lượng với thế
hệ nhà thơ trẻ.
Ông nói: “Văn chương
trẻ cũng có nhiều người nhí nhố nhưng tuổi trẻ có quyền như vậy, họ cần có mầu
sắc khác nhau. Khi người trẻ mới bước vào đời, họ có quyền ồn ào sau đó lắng
lại, như vậy may ra mới có cái gì mới. Chứ vừa bước vào đời đã mực thước ngay
thì... vất đi! Nên phải chấp nhận sự nhí nhố của giới trẻ. Hơn nữa, văn chương
trẻ náo động tức họ không bằng lòng với cái cũ, họ tìm cách chống lại cái cũ”.
Có lẽ vì thế mà ngay
từ lần tiếp xúc đầu tiên với ông, tôi có cảm giác khá thoải mái. Lúc ấy Lê Đạt
đang ngồi uống nước chè chén vỉa hè 51 Trần Hưng Đạo với mấy anh nhà thơ trẻ.
Khi nghe Trịnh Thanh Sơn giới thiệu tôi, ông cười thành tiếng: “À, té ra là
thằng vua thơ xứ Huế đây”. Tôi bảo 13 đời vua Huế hết lâu rồi, giờ chỉ toàn là
dân đen thôi. Và ông bảo tôi: “Thế thì cậu uống cuốc lủi, tớ uống trà”. Thế là
người trà kẻ rượu cứ ríu rít chuyện thơ phú.
Ông dễ gần là vậy. Thậm chí thấy
ông còn hơi dễ dãi với lớp trẻ nữa. Nhưng bàn về thơ thì nói chuẩn không chịu
được. Ông hay trích dẫn các bậc tiền bối phương Tây, và cho rằng, ta phải học tư
tưởng tự do của phương Tây. Nhưng trong cái cách thơ của ông tôi lại thấy những
câu thơ đầy nhịp điệu phương Đông:
Em về trắng đầy cong khung nhớ
….. Chiều Âu Lâu
bóng chữ động chân cầu.
Tôi phục nể ông về
cái sự kiếm tìm đằng đẵng và thủy chung về phía Mới của thơ. Chính vì thế mà ông
đã làm nên tên tuổi của mình bằng những “chữ thơ” để lại cho đời. Sự kiện ông
được tặng Giải thưởng Nhà Nước về Văn học Nghệ thuật “một cử chỉ đẹp” và xứng
đáng đối với thơ và con người Lê Đạt.
Giờ thì thi huynh Lê
Đạt đã ra đi, nhưng tôi biết Anh vẫn đi về phía Mới. Những dòng cảm xúc của đứa
em này xin thay nén tâm nhang vĩnh biệt Anh.
Nhà thơ
Nguyễn Trọng Tạo
|
Những hình ảnh cuối cùng về nhà thơ Lê Đạt: chụp với nhà thơ Dương Tường
và nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng |
|
 |
|
Nhà thơ Lê Đạt trong chuyến đi Tây Nguyên trước khi mất (Ảnh:
Phạm Văn Hạng) |
|
|
|
LÊ ĐẠT - CHỮ
Đỗ Lai Thúy
Tôi ghé như thiểu số phụ gia
Vẩy chữ thăng hoa
Thoáng cà cuống chưa đóng lọ
Đừng tìm tôi
chỗ những ghế ngồi
Hộp thư
đuôi chớp ngộ đầu ô
Lê Đạt
1
Trọn đời trọ góc nhìn thiên hạ
Cam tâm làm khách lạ bản thân
(Từ tình - Trọ)
Một nhà thơ thức thời thường cam phận
lỗi thời. Vấn đề là ở phía trước
hay phía sau.
(Từ tình - Đoản ngôn)
Nhà thơ thường có tật lẫn đường
và lần ra những đường mới.
(Từ tình - Đoản ngôn)
|
Nhà
thơ Lê Đạt - Ảnh: TL
|
Nhà thơ Lê Đạt (1929-2008) |
|
|
|
Cái ngày Nhân văn bị kết án, cũng là ngày khai tử Lê Đạt. Một Lê Đạt hăng
hái hoạt động xã hội và hoạt động thơ. Hay đúng hơn, theo quan niệm của
Maia, "người hùng một thuở" của nhóm, cách mạng xã hội và cách mạng thơ là
một. Nhưng với Lê Đạt bấy giờ, hẳn cách mạng thơ cũng nhằm phục vụ cách
mạng xã hội. Để thơ, theo lối nói của các nhà phê bình sang trọng bây giờ,
"ngang tầm thời đại". Ngôn ngữ thơ, vì thế, chỉ là bàn tay nối dài của tư
tưởng.
Không được tham gia vào "ngày hội của quần chúng", hoặc, lại theo lối nói
thông tục của thị trường bây giờ, mất "sân chơi công cộng", Lê Đạt đành
quay vào chơi với
chính mình. Đúng hơn, thế giới nội tâm mình. Thơ hướng ngoại thành thơ
hướng nội. Ngôn ngữ thơ quay về với chính bản thân nó. Chữ thành
trung tâm chú ý của Lê Đạt.
2
Nhà thơ là người thiểu số vùng sâu
vùng xa của ngôn ngữ, suốt đời
chưa sõi tiếng phổ thông
(Từ tình - Đoản ngôn)
Vườn chôm chôm
mùa khem thèm thòm trái
cấm
Vui mồm lắp lẫn
nhiều kinh kệ không quen
Amen
(Bóng chữ - Khuyết điểm)
Nếu trước đây, nhà thơ lấy nghĩa ứng
trước làm hệ quy chiếu để chọn chữ đặt câu, thì nay Lê Đạt lấy chữ làm
trung tâm phát nghĩa. Bởi thế, cái nghĩa hậu sinh này không phải là nghĩa
tiềm/tiền sinh tự điển, nghĩa tiêu dùng, mà nghĩa được phát sinh bởi các
mối liên hệ của chữ ấy với các chữ khác trong câu. Như vậy, đó là một
nghĩa khác,
nghĩa do thi nhân khai
nguyên. Một sáng - tạo - chữ của riêng Lê Đạt.
Sự đổi ngôi chữ - nghĩa này, có thể nói, là một cách mạng ngôn ngữ thơ
thật sự. Bởi, đây là thay đổi hệ
hình (paradigme).
Từ đống tro tàn, một con phượng hoàng khác khai sinh; Lê - Đạt - chữ. Tuổi
thơ Lê Đạt phải được tính từ đây.
Thuở ấy tôi rất già
Mở miệng
khuôn tổ tiên rập nói
Tôi bán khoán cửa
chùa Quán Ngữ
Lời chuộc tuổi mình
Nói thật khai sinh
(Bóng chữ - Chuộc tuổi)
3
Các triết gia cảnh báo nhiều
về nguy cơ tha hóa mà hơi ít
về nguy cơ đồng hóa, nó cũng là
một hình thức tha hóa
(Từ tình - Đoản ngôn)
Người ta có một cái đầu để làm khác
chứ không phải làm theo. Bất hạnh
là
người có cái đầu máy photocopy.
(Từ tình - Đoản ngôn)
Cách mạng hệ hình ngôn ngữ thơ như vậy, hẳn không chỉ có Lê Đạt, mà còn cả
Trần Dần, một cặp đôi với ông thời Nhân văn. Biết đâu, Dần, với một tính
cách thủ lĩnh, chả là người khởi xướng. Nhưng thôi, ai trước ai sau, ai
chủ ai tùy, thì giờ đây, khi họ đã bắt kịp nhau ở cõi bất tử, đã, ít nhất
với họ, không còn quan trọng nữa. Điều đáng nói hơn là, sau khi thức nhận
được tính
thứ nhất của
chữ so với nghĩa, thì Dần Đạt ai đi đường nấy. Tức con đường khai phá chữ
của Lê Đạt khác Trần Dần(1). Một can - đảm - chữ, như lời Lê Đạt phong
tặng Hoàng Cầm(2).
Hơn nữa, khác còn là quy luật sáng - tạo - thơ, ngành chuyên sản xuất
những độc bản. Khác, còn hợp với một Lê - Đạt - người, kẻ thích khác, nhất
là lập ngôn khác, người căm thù những bản sao, kể cả những bản lỡ tự sao.
Trong một xã hội cộng đồng với những con chữ bầy đàn hoặc một xã hội toàn
trị với những vườn ươm câu, những trại trồng chữ mà một người - chữ cứ
ngoan cố chỉ là mình thì thật bất tiện. Nhưng chân lý lời, khi đang còn
vắng tiếng vỗ tay thì là chân lý, còn khi cả đám đông thi đua vỗ tay thì
chắc gì đã còn là chân lý nữa.
4
Nhà thơ Đặng Đình Hưng có biệt tài
đặt ra những thắc mắc xóc óc. Hôm
đó
đương ăn cháo lòng chịu ở phố Huế,
Hưng đột nhiên hỏi tôi:
- Tại sao đọc thơ mình cậu khen hay
mà đọc Trần Dần cậu chỉ khen được.
- Vì mình đòi hỏi Trần Dần nhiều
hơn cậu.
(Từ tình - Đoản ngôn)
Trong một bài thơ cổ điển, nghĩa thường
đến đúng hẹn. Trong một bài thơ
hiện đại
nghĩa thường đến trễ giờ.
(Từ tình - Đoản ngôn)
Trần Dần, với chất lửa bẩm sinh, đi hết mình về phía hiện đại. Thi nhân
chú trọng cả âm lẫn chữ, tức mặt âm thanh và mặt thị giác của chữ. Về âm
thanh, nhà thơ sử dụng mọi thủ pháp biến
tấu âm, từ âm chữ đến âm vần, từ con âm có nghĩa đến con âm
không nghĩa. Thơ Trần Dần, nhiều lúc, đi đến hạn độ tột cùng của sự biến
tấu âm: thuyết
âm chữ (lettrisme).
Thơ như một bản nhạc chỉ cần âm điệu chứ không cần ngữ nghĩa. Về mặt chữ,
Trần Dần cũng thử nghiệm mọi chiêu thức biến
tấu chữ, từ chữ in, chữ thường, chữ đậm, chữ nhạt đến việc
thay thế một vài chữ cái bằng những ký tự của riêng ông, nhằm lạ hóa mặt
chữ. Kể cả việc sắp đặt các con chữ như một bức họa, hoặc phối chữ xen lời
để trở thành thơ Lời
và không lời. Một kiểu thơ cụ thể được bắt đầu từ thơ
đồ hình (calligrammes)
của Apollinaire đầu thế kỷ XX đến thơ
- họa trên văn học
mạng gần đây.
Việc lấn biên về cả hai phía nhạc và họa của Trần Dần đã mở rộng trường
phát nghĩa của thơ. Tuy nhiên, những cách tân tiền phong chủ nghĩa này đôi
khi cũng dẫn thơ đến những vùng mù nghĩa, thậm chí không nghĩa. Nhưng
trong thơ, không
nghĩa (chứ
không phải vô nghĩa) cũng là có nghĩa. Đó là nghĩa
không (zero),
một thứ nghĩa góp phần tạo nghĩa. Hơn thế, Trần Dần còn phát huy biến tấu
âm, biến tấu chữ ở cả cấp độ thể loại, nhằm tạo thành bè,
hoặc bè
đệm cho
những thơ - văn xuôi, thơ - kịch, thơ - tiểu thuyết phức điệu của ông.
5
Cho rằng ngôn ngữ có thể hoàn toàn
giải mã được là loại trừ nghĩa
(sens) hoặc rút gọn nó thành những
định nghĩa (signification).
Định nghĩa minh bạch và hữu hạn
Nghĩa mơ hồ và bất tận.
Nghĩa có những khoảng trắng không
thể
lấp đầy dành cho cơ may.
(Từ tình - Đoản ngôn)
Chia xa rồi anh mới thấy em
Như một thời thơ thiếu nhỏ
Em về trắng đầy cong khung nhớ
Mưa mấy mùa
mây mấy độ thu
Vườn thức một mùi hoa đi vắng
Em vẫn đây mà em ở đâu
Chiều Âu Lâu
bóng chữ động chân
cầu.
(Bóng chữ - Bóng chữ)
Ứng xử chữ của Lê Đạt dường như đi về phía hậu hiện đại. Không dừng ở việc
tìm nghĩa
khác cho
chữ, thi nhân còn muốn mỗi con chữ phải cùng
lúc phát nhiều
nghĩa. Điều này trái với quy luật chung của giao tiếp ngôn
ngữ. Bởi, nếu một chữ cùng lúc phát nhiều nghĩa thì câu sẽ thành một hỗn
độn, khả năng giao tiếp sẽ tụt áp xuống âm. Để lập lại trật
tự, các mối liên hệ cú pháp quy định cho mỗi chữ (hoặc từ) chỉ được phép
có một
nghĩa. Câu văn, nhờ thế, trở nên sáng sủa, trong sáng, dễ thu
nhận thông tin. Nhưng nghệ thuật, ngoài thông tin giao tiếp còn có thông
tin thẩm mỹ. Nếu thơ chỉ là công cụ của tư tưởng thì ngôn ngữ thơ càng
trong suốt càng tốt. Nhưng trong như nước cất thì không có con cá thẩm mỹ
nào sống được. Phải là nước tự nhiên, có trong có đục. Mờ đục chính là bản
chất của ngôn ngữ nghệ thuật. Thơ không chỉ có một khuôn mặt, nhất là mặt
dẹt ở những áp phích quảng cáo tuyên truyền, mà thường là "hai mặt", hay
bốn mặt như nàng Bayon, thậm chí vô số mặt.
Cấp cho mỗi con chữ một bóng
chữ, rồi bóng lại lồng bóng như trong một nhà kính vạn gương,
khiến chữ trở thành đa nghĩa, là con đường hoàng đạo đưa thơ về với bản
chất của nó. Và, để làm được điều này, Lê Đạt đã phá vỡ các liên hệ cú
pháp trong câu, khôi phục lại địa vị độc lập (tương đối) của chữ. Điều này
cũng có nghĩa là thi nhân phục hưng lại những giá trị uyên nguyên của từ
Việt và cú pháp Việt, ít nhất đối với thơ, đã bị lấm láp trên đường hiện
đại hóa do thói dĩ Âu vi trung.
6
Tôi trọng những nhà thơ sinh sự với
văn phạm để tạo ra sự sinh của ngôn
ngữ.
(Từ tình - Đoản ngôn)
Viết là phép đối xử với văn phạm
như một bạn chơi, chứ không phải
như
một nhân viên trật tự thô lỗ.
(Từ tình - Đoản ngôn)
Tiếng Việt, cũng như tiếng Hán, vốn là tiếng đơn lập. Hầu hết các từ đều
là tiếng (chữ),
là hình
vị, có thanh điệu, lại không biến đổi hình thái, nên, một mặt
có khả năng độc lập rất lớn trong câu, mặt khác đẻ ra một kho đồng nghĩa,
nghịch nghĩa rất thuận cho trò chơi
chữ. Câu tiếng Việt lại theo mô hình cấu trúc đề + thuyết (3),
nên dễ dàng cho phép tỉnh lược một vài bộ phận câu. Ngôn ngữ thơ trung đại
Việt Nam, ở những đại thụ của nó, đã cắm rễ cái vào được vùng màu mỡ này
của đất đai Việt ngữ, để làm nên những mùa quả.
Từ đầu thế kỷ XX, do nhu cầu phải diễn đạt tư tưởng, nhất là những tư
tưởng mới tiếp thu được từ bên ngoài, một cách khúc chiết và lôgic, tiếng
Việt vừa hối hả thu nhận những từ mới, khái niệm mới, vừa vội vàng mô
phỏng cấu trúc ngữ pháp chủ + vị của tiếng Tây. Lợi thế này trước hết cho
ngôn ngữ luận thuyết và khoa học, nhưng chưa chắc đã thuận cho ngôn ngữ
văn học, kể cả văn xuôi nghệ thuật. Nhưng đất nước đang trong xu thế hiện
đại hóa, mà lúc này là đồng nghĩa với phương Tây hóa, Pháp hóa, thì bản
thân tiếng Việt cũng khó cưỡng nổi.
Đầu những năm 30, khi thơ Việt Nam làm cuộc cách mạng lần thứ nhất của
mình, cuộc cách mạng Thơ mới, thì trước hết nó đưa
chất văn xuôi vào
thơ, mà chủ yếu ở phương diện cú
pháp. Lần đầu tiên thơ Việt có sự phân biệt rành rọt câu
thơ (dòng thơ) với
câu ngữ pháp. Câu ngữ
pháp có thể bằng hoặc nhỏ hơn câu thơ, nhưng thường là lớn hơn câu thơ.
Thơ mới, bởi thế, có rất nhiều câu vắt dòng. Thậm chí, một câu bao gồm rất
nhiều dòng thơ. Đặc biệt, thơ người mở đường Thế Lữ có nhiều từ nối, từ
suy lý như song
le, vả
chăng..., khiến cú pháp trở nên chặt chẽ như văn xuôi. Mô hình
câu chủ + vị của ngôn ngữ ấn Âu sớm trở thành khuôn mẫu cho tư duy văn học
Việt Nam, thậm chí cản trở cả sự thông hiểu ngôn ngữ thơ ca cha ông. Thật
nực cười khi để hiểu thơ Kiều,
người ta cứ nhất quyết đi tìm chủ ngữ, điều đã bị nhà thơ Đoàn Phú Tứ kịch
liệt phê phán(4).
Nếu nói thơ chính lộ hiện nay là sự kéo dài của Thơ Mới (thực chất chỉ là
phần lãng mạn của Thơ mới) thì đúng trước hết với sự thống trị của cú pháp
Thơ mới theo mô hình chủ + vị. Bởi vậy, tiếp tục tinh thần cách mạng của
Thơ mới thì phải làm một cuộc cách mạng khác, mà đầu tiên là phải "cách"
cái "mạng" Thơ mới đã. Tức tìm một mỹ học khác thay thế tính liên tục của
mỹ học Thơ mới. Trần Dần nói "chôn tiền chiến" là "chôn" theo nghĩa này.
Còn Lê Đạt thì lặng lẽ làm công việc thổ mộc của người phu chữ: sinh sự
với văn phạm chữ để con chữ sự sinh.
7
Cả hai nhà thơ X và Y cùng thích chữ.
X thích chữ như một nhà sưu tầm báu
vật.
Ở X, nhiều chữ quý tự thân.
Y thích chữ như một nghệ sĩ sắp
đặt.
Ở Y thường là những chữ đắc địa.
Thiên hạ mệnh danh Y là "Tả Ao
chữ".
(Từ tình- Đoản ngôn)
Trăng Ba Vì sao đổi chữ thiên di
(Ngó lời - Thiên di)
Người đẹp lẩn khe hai dòng chữ tối
Thủ thư mù
lần lẻ một lối mê
(Ngó lời - Borges)
Cú pháp Thơ mới lãng mạn đề cao tính
liên tục, tức coi trọng mối liên hệ giữa từ
với từ, đồng thời thúc ép người đọc đọc từ chữ đầu đến chữ
cuối trong câu, từ câu đầu đến cấu cuối trong bài, tức trừu tượng hóa sự
đọc. Đây là quá trình văn xuôi hóa thơ. Trong khi đó, thơ chú trọng đến
quan hệ trực quan giữa từ
với sự vật. Thơ triển lãm sự vật trước mọi người bằng sự khôi
phục nghĩa nguyên thủy của từ, tức "phục sinh từ", hoặc "lạ hóa" từ - như
cách nói của Sklovski. Đồng thời, để hãm lại sự đọc nhanh, hay "đọc tự
động", thơ chủ trương đọc thong thả, "tha thẩn chữ", qua những hình tượng
cụ thể trực quan. Đây là sự
đứt đoạn. Sự chống lại cú pháp để tạo ra thơ.
Roman Jakobson, nhà lý thuyết thơ, có nói: Thơ là sự phóng chiếu trục lựa
chọn lên trục kết hợp. Tức chặt đứt tính liên tục cú pháp bằng những đồng
đẳng (cả
tương đồng lẫn đối lập). Lê Đạt đã kỳ khu tạo ra đồng đẳng trong thơ ông
trên mọi cấp độ thơ. Cấp độ chữ,
cấp độ câu,
và cấp độ nghĩa.
Từ đó, tạo ra thi
pháp chữ, thi
pháp câu, thi
pháp nghĩa và, cuối
cùng, bút
pháp(écriture) Lê Đạt.
Cũng như các bậc thầy chữ trong làng thơ Việt Nam, như Nguyễn Gia Thiều,
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà..., Lê Đạt rất
quý chữ, thích chữ. Ông, cũng như họ, tận dụng được sự phì nhiêu chữ Việt,
như giàu có thanh điệu, giàu đồng nghĩa nghịch nghĩa, giàu tượng hình
tượng thanh. Với 72 phép chữ. Nhưng khác họ, Lê Đạt không sưu tầm chữ tự
thân, chữ đặc (đối
lập với chữ nước), nhãn
tự, thần
tự, mà chú trọng hơn đến cách sử
dụng chữ,
tìm "mả" (chỗ "đắc địa") cho chữ. Bởi thế, với Lê Đạt, bất kỳ một "mảnh
chĩnh" ngoài bờ tre nào cũng có thể trở thành "chuông, khánh".
Rất nhiều con
chữ Lê Đạt
tối giản lại chỉ còn là những nguyên
âm, có nghĩa hoặc không nghĩa, nhưng đưa con người trở lại
thuở khai sinh, đưa vạn vật trở lại thuở khai thiên lập địa, tạo ra một sáng
thế chữ, hay
một "hồi quy vĩnh cửu" như Nietzsche nói. Chữ
o với
những thanh điệu của nó ("Tù và ai ọ nghé đồng tranh", "Đèn mơ ngơ/xuân
ớ/ngã tư ờ"), chữ e ("Chỉ
bóng anh/ò e/xe Văn Điển"), chữ u ("Ngõ
trắng bời bời mây nổi/ U ú thiên hà/tàu nhả khói ngã ba", "Tim ù ù/gió
ú/Một nguyên âm")... Nguyên âm là tiếng đầu tiên khi homo
sapiens chuyển từ
ngôn ngữ không phân tiết của loài chim sang ngôn ngữ phân tiết của loài
người. Sự ú ớ thơ ngây mà mang bao nhiêu kinh nghiệm tiền sử. Nguyên âm u
(là mẹ, là đất, là đất mẹ) chẳng hạn, như tiếng gọi trở về cội nguồn
nguyên thủy, cội nguồn vô thức.
Lê Đạt cũng thích chơi chữ, thậm chí chơi
chữ Tây, bằng từ tượng thanh:
Nắng tạnh heo mày hoa lạnh
Mimôza chiều khép cánh mi môi xa
(Bóng chữ - Mimôza)
Một từ mimôza được cắt thành 3 chữ mi môi xa đã tài, nhưng tài hơn là được
đặt văn cảnh phù hợp. Tạnh nắng, gió heo may, chiều trở lạnh, hoa mimôza
khép cánh..., thiên nhiên tất cả đều gợi nhắc đến chia ly, xa cách của con
người (heo mày, mi môi xa). Hoặc thần tình hơn là chơi
chữ Ta:
Hay em biến trong gương
một người giống
em
trở lại
Má má môi
mà mỗi mãi xa
(Bóng chữ - Gương)
Sự nhại âm má
má môi/mỗi mãi xa ở
đây tạo ra một sự đối sánh gương cho một tình yêu đã vãn em/giống
em, biến/trở lại. Đồng thời, tạo ra một chuỗi những đối lập
giữa hình và bóng, gần và xa, còn và mất...
Bí mật thi
pháp chữ Lê
Đạt nằm ở chỗ, một mặt nhà thơ vẫn sử dụng các thủ pháp biến điệu chữ để
tạo ra sự đứt đoạn, mặt khác duy trì áp lực tính liên tục của cú pháp lên
con chữ bị biến điệu, khiến nó trở thành chữ
sai/ chữ nhịu:
Áo trắng bước bồng bềnh mây trắng
Trời sáng ngần thân phố khỏa xuân
(Bóng chữ - Áo trắng)
Cảm giác đầu tiên, những chữ sáng,
ngần, xuân trong
câu thơ thứ hai là những chữ sai. Không ai nói sáng
ngần cả, mà
chỉ nói trắng ngần. Hơn
nữa đã áo trắng, mây trắng thì thân (thể) phố cũng phải trắng (ngần), nhất
là khi khỏa thân (xuân). Như vậy, chữ xuân phải
là thân thì
mới hợp với chữ khỏa. Tuy nhiên, ngẫm kỹ thì sáng
ngần và khỏa
xuân là cách
dùng từ mới mẻ và sáng tạo của nhà thơ. Khỏa
xuân đã nhân
cách hóa con phố, thiên nhiên hóa cái nhân tạo, đồng thời biến mây trời
thành áo trắng của con người, nâng vẻ đẹp người ngang với thiên nhiên và
hòa hợp với thiên nhiên.
Những chữ "sai cố ý" như vậy của Lê Đạt khiến đầu óc cú pháp và lương tri
thông thường của chúng ta cứ tự nhiên "chữa lại" thơ ông cho "đúng". Hay
ít nhất cũng dừng lại, tìm hiểu. Thế là đằng sau con chữ ông dùng lấp ló
những con chữ khác của người đọc, hoặc chữ do ông gài sẵn vào đấy để người
đọc "phát hiện". Những chữ đằng sau chữ đó tạo thành bóng
chữ. Thơ Lê Đạt là một chuỗi những chữ của chữ, cái biểu đạt
của cái biểu đạt.
Tuy nhiên, những con chữ của chữ đó không bao giờ trùng khít. Chúng tạo ra
những khe hở: Người
đẹp lẩn khe hai hàng chữ tối để phát nghĩa, nghĩa tiềm ẩn, vô
thức:
Tóc bạc tầm xanh qua cầu với gió
(Bóng chữ - Quan họ)
Ai cũng thuộc những câu ca dao về hoa tầm xuân, nụ tầm xuân, nên đọc đến
câu thơ này thì chữ xanh trong tầm
xanh là chữ
nhịu, người đọc tức thời muốn cải chính lại là tầm
xuân cho
đúng tri thức văn hóa thông thường. Nhưng rồi thấy tầm
xanh trong
tương quan với tóc
bạc cũng có
nghĩa. Vậy là giữa khe chữ của xuân/xanh xuất hiện hai nghĩa: một người
già (tóc bạc) đi nghe
quan họ để tìm lại tuổi trẻ (tầm
xanh) của mình, hoặc để tìm tình yêu (tầm
xuân). Rồi xuân xanh lại hòa trộn vào nhau nên người tóc bạc
đi tìm cả tình yêu lẫn tuổi trẻ, một tuổi trẻ ở người quan họ (Đùi
bãi ngô non ngo ngó sông đầy) và một tuổi trẻ đã mất (nay đã
lấy lại được) của mình. Sự nhịu lời, như vậy, biểu hiện một cách vô thức
của sự nhịu
tình.
8
Người ta thường đánh giá cái mới, cái chưa biết
bằng những cái đã biết rồi. Đó là
nguyên nhân
sinh ra tình trạng oái oăm: thằng
chết cãi thằng
khiêng.
(Từ tình- Đoản ngôn)
Người ta thường hiểu lầm rằng nghệ sĩ cách tân
chủ trương xóa bỏ mọi gò bó. Không.
Anh ta chỉ
đòi xóa bỏ những gò bó lỗi thời và
phi nhân tính
để tự giác đề ra cho mình những gò
bó tự do hơn.
Không có gò bó thì cũng không có
nghệ thuật.
(Từ tình- Đoản ngôn)
Nếu thi pháp chữ chủ yếu dựa vào những đồng đẳng ngữ âm, thì thi pháp câu
chủ yếu dựa vào những đồng đẳng ngữ pháp. Để tạo ra những đồng đẳng của
các cụm từ trong câu, thi nhân sử dụng nhiều chiêu thức, kể cả vô chiêu.
Nhưng với Lê Đạt, hai thủ pháp được ông dùng nhiều hơn cả, trở thành thi
pháp là phép
tỉnh lược và
sự phá
vỡ trật tự từ trong câu, biến ngôn ngữ ý niệm của văn thành
ngôn ngữ ý tượng của thơ.
Nói vậy, thơ Lê Đạt không phải là không có ngôn ngữ ý niệm: Ngỡ
trốn đùa đâu ngờ em trốn thật/ Rừng ngàn tìm lạc giọng hu ... ú tim (Ngó
lời – Ú tim), Mắt
nước con triều thu lên xuống/ Mà tàu mắc cạn vũng tình trăng (Ngó
lời - Vũng tàu). Những từ nối như
ngỡ, đâu ngờ, mà... làm cho câu thơ trở thành một phát ngôn
logic mang tính trình bày một tâm trạng hay hoàn cảnh. Kiểu phát ngôn này
ít xuất hiện trong thơ Lê Đạt. Thường hơn, thi nhân lược bỏ hết các từ
liên kết, khiến các cụm từ trong câu thơ thành độc lập.
Điện tắt thu tàn trăng cuối tháng
Lời thầm hoa phát sáng thư hương
(Ngó lời - Thư hương)
Câu thứ nhất, do thiếu các từ nối, rã ra thành 3 cụm từ độc lập và đồng
đẳng: Điện
tắt/ thu tàn/ trăng cuối tháng. Cả 3 tuy khác nhau về cấu trúc
ngôn từ (N+V, N+Adj, N+ Adj (định ngữ), nhưng đều chỉ khoảnh thời gian ánh
sáng thiếu hoặc yếu trong chu trình một ngày (cuối
ngày, chập tối hay ban đêm, lúc cần thắp sáng), một tháng (cuối
tháng, trăng cuối tháng), một mùa (cuối
mùa, mùa cuối). Trong bối cảnh không nhìn thấy đó thì hoa muốn
gửi lời
thầm (tâm sự, lời
yêu) chỉ còn có cách toả hương: Lời
thầm hoa phát sáng thư hương. Thư
hương là một bài
thơ tình, nhưng cũng là lời nhắn gửi một nhân tình thế thái: con người
phải phát sáng nhân phẩm của mình bằng mọi cách, nhất là vào những lúc tối
trời.
Thơ Lê Đạt cũng thường tỉnh lược chủ ngữ. Trong Bóng
chữ, nhiều bài thơ do gắn liền với hoàn cảnh cá nhân còn có
nhân vật xưng anh làm
chủ ngữ trong câu, như Anh
đến mùa thu nhà em; Khi gió mùa anh đi/ Sang sông tìm nắng khác; Anh muốn
làm bông hoa/ Đầu xuân cài cỏ mộ; Anh tìm về địa chỉ tuổi thơ/ Nhà số lẻ
phố trò chơi bỏ dở... Sang Ngó
lời, nhất là ở những bài thơ
hai kâu, thì anh ít
xuất hiện, mà có xuất hiện thì cũng chỉ là một cái tôi nhân xưng phiếm
chỉ. Còn thường là câu không có chủ ngữ. Đúng hơn, câu chỉ có phần thuyết (thông
báo mới, cái chưa biết) chứ không có phần đề (cái
đã biết, hoặc tiền giả định). Sự vật, sự việc, nhờ thế, như không cần ai
nói hộ, nói đến, tức ở ngôi thứ ba, mà tự hiện diện, tự phô bày mình như ở
ngôi thứ nhất.
Mi liễu mắt đừng sao sắc nữa
E biếc đầu thu lỡ giết người
(Ngó lời - Đầu thu)
Vườn nắng mắt gió bay mùa hoa cải
Bóng lá răm ngày Phả lại đắng cay
(Ngó lời - Phả lại)
Máy nhắn chim tin tìm mê lộ phố
Lòng khác tình tim đổi số lặng
thinh
(Ngó lời - Máy nhắn tin)
Ở những câu thơ trên, hoặc không có chủ ngữ, hoặc có rất nhiều từ, cụm từ
có thể làm chủ ngữ được, tức một hình thức không chủ ngữ xác định. Nhờ
vậy, câu thơ vừa trực quan, cụ thể, cá biệt, nhất thời (do sự vật, sự việc
tự trình bày về nó), vừa khái quát, muôn thuở do tính phiếm định chủ ngữ
của nó. Cái tôi Lê Đạt, một mặt cùng với hành trình thơ của ông, đi từ cái
tôi đơn ngã sang cái tôi đa ngã, mặt khác từ cái tôi tiểu ngã sang cái tôi
đại ngã theo con đường minh triết sống của thi nhân.
Thủ pháp tạo đồng đẳng khác của Lê Đạt là phá vỡ trật tự từ trong câu.
Theo quan sát của nhà Việt ngữ học người Pháp tâm huyết và tài ba, Cha
L.Cadière, người Việt có thói quen cái gì thấy trước, xảy ra trước thì nói
trước, cái gì thấy sau, xảy ra sau thì nói sau(5). Từ đó, hình thành trật
tự từ câu tiếng Việt một cách cố định. Trật tự từ tiếng Việt, bởi vậy, có
tính cú pháp, là một yếu tố cú pháp. Lê Đạt giải phóng từ khỏi sự ràng
buộc cú pháp, như xóa đi một bàn cờ đương dở cuộc. Các quân cờ chữ nằm lộn
xộn trên mặt bàn cờ - câu thơ như chờ người đọc - người chơi sắp xếp lại.
Và mỗi người có thể theo cách của mình.
Đưa anh lần những vùng quên tuổi dại
Thuở trăng sim soi lại bãi tim khờ
(Từ Tình - Tuổi dại)
Lối ngỏ nắng biệt mùa phong ủ đỏ
Fôngtenblô tình bỏ nhỏ lá thu
(Từ tình - Fôngtenblô)
Ngoài sự đổi ngôi chữ trong câu như bỏ
nhỏ
→
trăng tim, bãi tim
→
bãi sim, lối ngỏ
→
lối nhỏ, bỏ nhỏ
→
bỏ ngỏ...,
sự tương tự về âm/ chữ của một số chữ cũng gợi đến một số chữ khác vắng
mặt trong văn bản như sim
soi
→
xăm soi, lá thu
→
lá thư khiến
người đọc phát hiện ra đằng sau mỗi câu thơ còn những câu thơ khác, đằng
sau bài thơ còn bài thơ khác. Như vậy, chính sự
ngọng nói ("Lòng
mới ngỏ yêu tim ngọng nói/Lời tỏ tình chưa sáng sõi bình minh", Bóng
chữ - Tỏ tình), chứ không phải nói
ngọng, do cố
ý sắp sai vị
trí của từ trong câu, đã tạo ra một vết nứt địa chấn cho phép các nhà khảo
cổ học tri thức thấy được tầng vỉa của cấu trúc địa chất ngữ nghĩa.
Tháp Gô-tích núm đồi trưa thở nắng
Chuông ngân chim
thân trắng
bướm cựa
mình
Lửa gạo thắp hoa đèn soi cỏ lạ
Mây Sơn Tinh
nước cả
ngã
ba tình
(Ngó lời - Trung du)
Là một phong cảnh trung du, một câu chuyện tình huyền thoại Sơn Tinh Thủy
Tinh, một người đẹp khoả thân, hay là tất cả.
Tư tưởng lớn của Lê Đạt chính là bút pháp của ông. Écriture Lê Đạt với sự
cố ý làm sai, làm lệch, mắc lỗi, thậm chí kháng chỉ, là sự vi phạm các
loại trật tự hiện hành, trước hết là trật tự ngôn ngữ.
>> Lê
- Đạt - chữ (phần 1)
9
Tâm phân học không phải là một văn bản.
Đó là một tiền văn bản. Nó không phải
là lời
mà sinh ra lời. Nhà tâm phân học
không phải
chỉ lý giải một văn bản của vô thức
đã có
sẵn, anh ta vừa lý giải vừa sản sinh
ra nó.
(Từ Tình - Đoản
ngôn)
Kinh nghiệm mùa đầu tim sẹo mãi
Thất tình ba bảy thất tình hơn
(Từ Tình - Kinh nghiệm)
|
 |
|
Nhà thơ Lê Đạt (1929-2008) |
Đồng đẳng chữ, tức chữ và những bóng
chữ, tạo ra một đồng đẳng nghĩa, một chuỗi những từ đồng
nghĩa, nghịch nghĩa, hoặc nghĩa tương tự. Đồng đẳng câu, hoặc những thành
phần trong câu, cũng tạo ra sự đồng đẳng nghĩa. Tức những ngó
lời, lời ngó, vừa mới ra đời còn non tơ (như ngó
cần, ngó sen), vừa ngấp ngó, nghiêng ngó (như chim non mới thò
đầu ra miệng tổ) chưa hiện thân hẳn. Như vậy, Lê Đạt đã đi một mạch từ thi
pháp chữ đến thi pháp câu. Và bây giờ, liệu có thể nói đến một thi
pháp nghĩa ở thơ
ông?
Thực ra, ở những phiếm đoạn trên, khi bàn về chữ, câu Lê Đạt, tôi cũng đã
là bàn đến, một thi pháp nghĩa Lê Đạt. Tức cái
cách ông làm để chữ
câu cùng lúc phát nhiều
nghĩa. Bởi thế, ở đây, trong phiếm đoạn này, tôi chỉ nói đến
bản chất hoặc thực chất của đồng đẳng nghĩa Lê Đạt, mà cũng chỉ ở một
phương diện của nó, là ẩn
dụ và điển
cố. Đây chính là đặc sắc của từ tình Lê Đạt. Tức cái tình
(hoặc khối tình) không chỉ xuất phát từ từ,
tức cả (bóng) chữ lẫn
(ngó) lời,
mà còn từ cả trường nghĩa của từ và, cuối cùng, từ cái không
lời đẻ ra lời,
từ cái tiền
- văn bản đẻ
ra văn
bản.
Ẩn dụ lớn,
chi phối toàn bộ thơ Lê Đạt, là tình
yêu. Hay đúng hơn, theo chính Lê Đạt, cái cao hơn cả tình yêu: thất
tình! Một tình yêu được đáp ứng tạo ra sự thỏa mãn, khiến con
người trùng
khít với bản thân, một trạng thái ngủ ngon của người
đặc. Còn thất tình tạo ra đau khổ, làm con người lệch
mình, trở nên rỗng, một thao thức. Tình yêu hạnh phúc không
làm phiền ai, vì nó tự đóng khung trong chính bản thân nó. Tình yêu bất
hạnh, ngươợc lại, làm phiền mình ở cõi đời và phiền người ở cõi chữ.
Tựa Từ
Tình, Lê Đạt viết:
"Đã có lúc tôi ngờ rằng các nhà thơ tình ít nhiều đều có họ với Từ Thức.
Đều đã gặp Thiên
thai ít nhất
một lần trong đời và vĩnh biệt nó suốt đời.
Từ Tình là
những từ
thức trong sâu thẳm
ta phút giây tống
biệt. Và dấy lên thành thơ.
Đừng nên quên những bài thơ Đường kiệt xuất đa phần đều là những bài thơ ly
tình.
Elsa Triolet đã rất tinh tế khi giải thích cái chết của Maia:
Chẳng ai yêu tôi cả. Tôi đi.
Elsa không hiểu rằng đó là một thông lệ - chẳng ai yêu nhà thơ đến điều
cả. Trong tình yêu người ta thường tiêu hai thứ tiền. Và nhà thơ bao giờ
cũng tim chỉ tệ mạnh. Riêng có từ,
vốn nặng lòng. Thơ chính là từ
tình, cũng có nghĩa là tự
tình, tức yêu đơn phương, yêu thất tình, yêu bóng.
Đó là nỗi sầu
vạn cổ, cũng là thách thức và niềm
lạc quan ngoan cố
của nhà thơ".
Từ thất
tình với tư cách là
ẩn dụ lớn, ẩn dụ - mẹ, Lê Đạt có hẳn một hệ ẩn dụ - con. Đó là thất
tình trong
tình yêu trai gái, thất
vọng một
tình yêu lý tưởng và thất
bát trong
tình yêu tuổi trẻ. Các ẩn dụ của Lê Đạt đều là những biểu
tượng ám
ảnh. Phần nổi của tảng băng trôi trên biển vô thức.
Muốn hiểu rõ hơn ẩn dụ thơ Lê Đạt, có thể so sánh ẩn dụ với điển cố, cũng
dày đặc trong thơ ông. Cả ẩn dụ lẫn điển cố đều tạo ra một sự đồng đẳng,
nguồn cội của tính thơ; cả ẩn dụ lẫn điển cố đều thuộc một kiểu tư duy;
nhưng ẩn dụ và điển cố khác nhau như bề
trái và bề
mặt (từ của
Camus), như âm và dương. Nếu ẩn dụ là ngôn
ngữ ý tượng thì
điển cố là ngôn
ngữ ý niệm.
Ẩn dụ luôn hồn nhiên, rực rỡ như một bông hoa nở từ thời huyền thoại, mà
trên cánh vẫn còn ngậm những hạt sương của buổi sớm nay, còn điển cố là
kinh nghiệm tang thương của nhân thế, của lịch sử. Bởi thế, ẩn dụ nghiêng
về cảm tính, còn điển cố thiên về lý tính. Ẩn dụ nghiêng về chiều thẳng
đứng, từ vô thức đến siêu thức, còn điển cố nghiêng về chiều nằm ngang,
liên và xuyên văn hóa. Ẩn dụ và điển cố khác nhau đến như vậy, nhưng trong
thơ Lê Đạt thì chúng thường hòa hợp nhau.
Nắng học trò vườn vai thu trắng lá
Nỗi bây giờ tượng đá tuổi ngày xưa
(Từ Tình - Vườn Luxămbua)
Đến
thăm vườn Luxămbua ở Paris, thi nhân nhớ tới tiểu thuyết Cuốn
sách của người bạn tôi nổi
tiếng của nhà văn Pháp nổi tiếng A. France, trong đó có đoạn miêu tả một
cậu bé sáng sáng đi học ngang vườn Luxămbua qua pho tượng vai trắng lá thu
rơi. Ở Việt Nam, đoạn văn tuyệt tác này đã được đưa vào Quốc
văn giáo khoa thư. Bởi thế, cả khu vườn lẫn cuốn sách đều là
kỷ niệm học trò của Lê Đạt. Đó là điển cố. Nó mở rộng sự
tương đồng ngữ
nghĩa. Nhưng điển - cố - Lê - Đạt không bao giờ dừng lại ở một không gian
khác hay một thời gian khác, mà bao giờ cũng lộn trở về với ở
đây và bây
giờ, để bộc lộ một cái nhìn, một tâm sự: Nỗi
bây giờ tượng đá tuổi ngày xưa. Nỗi bây giờ, nỗi tượng đá bây
giờ có nguyên nhân của tuổi ngày xưa, tuổi học làm trò. Điển cố lập tức
biến thành ẩn dụ.
Lê Đạt rất thích Jacques Lacan, người đưa cấu trúc luận vào phân tâm học.
Định đề "vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ" là một công án với nhà
thơ. Lacan thỏa mãn Lê Đạt cả ở tâm (phân
tâm học) lẫn trí (cấu
trúc luận). Phá được công án trên, tức đạt ngộ,
thì không còn phân biệt tâm/ trí nữa. Lê Đạt, với những ẩn dụ - điển cố
hay điển cố - ẩn dụ, đã đặt một chân vào cảnh giới tâm
trí.
10
Thật ra Đông Giuăng (Don Juan) là một
kẻ chung tình nhất, chung tình với
tình yêu.
(Từ Tình - Đoản ngôn)
Theo danh họa Benme (Bellmer), một vật thể
chỉ có thực khi nó bị ham muốn làm
cho
biến dạng. Một vật thể đồng nhất với
bản
thân hoàn toàn không hiện thực.
Người
đàn bà ta yêu không còn là người đàn
bà thực
của đời thường, người đó đã bị tình
yêu của ta
làm trở thành bất thường và duy nhất.
Và chỉ
người đàn bà đó đối với ta là có
thực.
(Từ Tình - Đoản ngôn)
Trong làng thơ Việt Nam, Lê Đạt, có lẽ là một nhà thơ tình tình nhất.
Trong thơ ông không có những Hêlen, Lôrơ, Ulriquơ cụ thể như ở Rôngxa
(Ronsard), Pêtracơ (Pétrarque), Gớt (Goethe), nhưng ở câu thơ nào cũng lồ
lộ một khuôn mặt tình yêu. Nói vậy, không phải trong đời thực nhà thơ
không có người ông yêu và yêu ông. Có, và hẳn là nhiều. Nhưng, trong đời
chữ, thi nhân đã chưng cất những con người cụ thể ấy thành một em,
một đấy,
một ai…
tưởng trừu tượng mà lại rất cá biệt.
Lê Đạt yêu nhiều và, không may cho ông nhưng lại may cho người đọc ông, là
thất tình cũng lắm. Nếu không, hẳn thi nhân, với bản chất của mình, sẽ trở
thành một "người tình muôn thuở" của một người chứ không phải "người tình
một thuở" của muôn người. Với niềm lạc quan ngoan cố của một nhà thơ, càng
thất tình, Lê Đạt càng chung tình. Người
đẹp cung cấp phụ bạc để nhà thơ sản xuất chung tình (Từ
Tình - Đoản
ngôn). Nhưng lúc này, như Don Juan, là chung tình với tình
yêu. Đó là một thứ yêu
tình yêu thường chỉ
thấy ở tuổi đầu đời và ở anh nhi tuổi cuối. Và, ở cả nhà thơ.
Thi nhân viết về thất tình, tức những mối tình đã
mất nhưng chưa qua. Khác với phần đông chúng ta thường hay lưu
giữ những mối tình đã
qua nhưng chưa mất. Thất tình Lê Đạt không phải do sự không
tương xứng giữa hai bên, mà chủ yếu, do những
lệch pha. Tức những nguyên
nhân bên ngoài, ngoại cảnh.
Đầu tiên là lệch pha thời
đại. Thời cổ tích và thời đại sau cổ tích, tuy đôi khi vẫn còn
có cổ tích. Vì thế mới có sự gặp gỡ của Từ Thức với tiên nữ, của Tú Uyên
với Giáng Kiều, và Lưu Nguyễn nhập thiên thai… Những mối tình kỳ ngộ và
hạnh ngộ như vậy, như những câu thơ hay, như vậy, có lẽ với ai đó chỉ diễn
ra "một lần trong đời và vĩnh biệt suốt đời".
Một lệch pha khác đã diễn ra với Goethe, khi ông "vào tuổi ngoài thất thập
còn yêu mê mệt một "chíp" thập nhất, tên là Ulriquơ. Và Goethe đã bại,
nhưng không phải vì lệch thời, mà
"Nhà thơ đã phạm phải một lầm lẫn to
lớn về thể loại.
Gớt tin rằng mối tình của mình là một
tình ca cổ điển.
Ulriquơ lại coi nó như một tình ca
sắp đặt hậu tân thời".
Lê Đạt không có được hạnh phúc "nhầm thể loại" như thi hào Đức. Ông chỉ lệch
tuổi. Bởi những người tình ra đi thì họ còn trẻ mãi, ít nhất
tuổi họ dừng lại ở thời chia tay. Còn thi nhân thì mỗi tuổi mỗi cao: Lòng
sang trang thu hồi ký là vàng. Tình yêu trong thơ Lê Đạt, vì
thế, mang tính hồi tưởng. Luôn có một khoảng
cách thời gian nằm
giữa hai người, hay nằm giữa một Lê Đạt bây giờ và một Lê Đạt ngày ấy.
Thời gian của thời gian thì mang tính khoa học, tuyến tính (Cốt
thuyền đợi nước sông xanh mày vắng/ Một tình sâu gương trắng bạc đầu,
Từ Tình - Gương
thu). Thời gian của không gian mang tính tâm lý, đa chiều bởi
cái nhìn kép (Em ô một lạnh nhìn anh
lãnh đủ/ Ngoại dù vùng mùa nhỏ hóa mưa to, Từ Tình - Ngoại
dù). Chính những khoảng cách thời gian này đã lọc trong tình
yêu (Tim hạn mộng héo cành úa rễ/
Tình lên chùa làm lễ cầu mưa, Từ
Tình - Cầu
mưa). Nếu tình yêu là hoa, thì tình yêu Lê Đạt là hương. Thứ
hương đó ông gọi là thơm.
Với ông, hẹn tình là hẹn
thơm, còn tình cũ là thơm
xưa.
Phố anbum đêm trở lòng lá úa
Bóng những đàn bà cũ heo may
Vằng vặc môi trăng đường dang dở
Hoa mùi thơm cổ má đầy tay
(Từ Tình - Thơm xưa)
Một thứ tình yêu được thơm
hóa như vậy những
tưởng sẽ có một khuôn mặt thuần khiết, không dục tính. Nhầm. Khoảng cách
kìm nén dục tính càng lớn, và, càng kìm giữ càng mạnh, thì sự phát lộ càng
ở mọi nơi mọi lúc.
Tóc bạc tầm xanh qua cầu với gió
Đùi bãi ngô non ngo ngó sông đầy
Cây gạo già lơi tình lên hiệu đỏ
La lả cành
cởi thắm
để hoa
bay
Em về nói làm sao với mẹ…
(Bóng chữ - Quan họ)
Bài thơ viết về một câu quan họ "yêu nhau cỏi áo trao nhau"? Về một cảnh
sinh hoạt quan họ nơi bến sông đầu bãi? Về sự thức tỉnh tình yêu của một
người tóc bạc đi tầm
xanh/xuân trước
vẻ đẹp của câu hát hay của chính cô em quan họ? Có lẽ là tất cả. Ấn tượng
thẩm mỹ vốn phi hình thể, không định hình. Nhưng trên khối đẹp hỗn độn ấy
vẫn lấp ló hình thể một người đàn bà khoả thân.
Tính dục Lê Đạt mang tính ẩn ức, toàn hiện.
Tình yêu Lê Đạt mang tính lý tưởng.
11
Lý tưởng được nuôi dưỡng bởi những vỡ mộng
Cũng như tình yêu bởi những thất
tình.
(Từ Tình - Đoản ngôn)
Hiền tài, hay "hỗn" tài đều là nguyên khí quốc gia
Các nghệ sĩ nòi ít nhiều đều dính một
trọng tội:
Tội kháng chỉ.
(Từ Tình - Đoản ngôn)
Thế kỷ đinh ninh tình cập bến
Ghé nhầm một điểm đến trùng tên.
(Từ Tình - Cặp bến)
Tình yêu đầu đời của Lê Đạt, ngoài yêu tình yêu, yêu phụ nữ, còn có một tình
yêu lớn khác: yêu
lý tưởng. Một lý tưởng xã hội và một lý tưởng thơ ca. Sự thất tình lần này
không khiến thi nhân chừa yêu. Trái lại, càng khiến thi nhân yêu can đảm
và sâu sắc hơn. Nhưng lúc này là lý tưởng cách tôn thờ cách mạng thơ thật
sự và một lý tưởng sống tự do, sáng tạo trong một môi trường dân chủ, nhân
văn.
Tuy nhiên, kinh
nghiệm mùa đầu tim sẹo mãi. Và, bên dưới vệt sẹo ấy, là ẩn ức
cá nhân. Nỗi đau ấy có thể làm con người gục ngã, cũng có thể làm người ấy
đứng dậy, đi tới, đổi thay. Lê Đạt không chỉ vịn
câu thơ đứng dậy như
Phùng Quán, ông còn sáng tạo ra những câu thơ khác cho người vịn để cùng
đi. Chăn
bò Côn Sơn, là một bài thơ như thế. Bởi nó không nói về nỗi
đau, mà kinh
nghiệm nỗi đau. Tức kinh nghiệm vượt thoát ẩn ức cá nhân.
Ngoài ra, bài thơ còn là một ví dụ tiêu biểu cho thi pháp nghĩa của Lê
Đạt: ẩn-dụ-điển-cố và
điển-cố-ẩn-dụ.
Thuở chăn bò bãi cỏ xanh đầu tuổi
Côn Sơn trăng vườn vải nỗi thông reo
Chòm Yên Tử gió triều neo mây nổi
Suối Giải Oan chân lội tội trần
(Từ Tình - Chăn bò Côn Sơn)
Trước hết bài thơ có chữ đầu
tuổi. Nằm trong sự đối lập với các chữ mà tác giả hay dùng như cuối
tuổi, tuổi
cuối, thì đầu tuổi ở đây là tuổi
đầu, tuổi
đầu đời chỉ tuổi
trẻ. Xanh đầu
tuổi thì chữ xanh có nghĩa nghĩa là non, non nớt trong đối lập với chín,
thuần thục. Bởi vậy đầu tuổi, xanh đầu tuổi gia nhập vào chuỗi những từ
đồng ý nghĩa khác như tuổi
dại ("Đưa
anh lần những vùng quên tuổi dại / Thuở trăng sim soi lại bãi tim khờ"), tuổi
lú lẫn ("Tuổi
lú lẫn/ ngược nhầm ga trẻ dại"…), tuổi
mải tàu("Một góc tuổi
mải tàu/ thơ dại mãi") để chỉ một mộng vỡ thời trai trẻ. Đó
cũng là nguyên nhân tác giả làm người chăn
bò ở vùng
Côn Sơn, Yên Tử.
Hình ảnh người
chăn… cũng là một biểu tượng ám ảnh trong thơ Lê Đạt. Đó là
ông lão chăn dê, lão nguồn, lão núi, ông phó cả ngựa… trong Bóng
chữ. Người chăn bò, trong trường hợp này, gợi nhắc đến tích Tô
Vũ chăn dê trong văn liệu cổ Hoa hạ. Một người bị lưu đày xa trung nguyên,
nhưng suốt bốn mươi năm cô đơn trung nguyên chưa bao giờ xa ông trong tâm
trí. Người chăn bò mang một tâm sự được thi nhân gọi là nỗi
thông reo.
Nguyễn Công Trứ ngày xưa có bài thơ: Ngồi
buồn lại trách ông xanh/ Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười/ Kiếp sau
xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo/ Giữa trời vách đá
cheo leo/ Ai mà chịu rét thì trèo với thông. Nỗi thông reo
trong sự liên thông với bài thơ này chỉ, một mặt nỗi buồn cho nhân tình
thế thái, mặt khác khẳng định nhân cách cây thông quân tử cứng cỏi, bất
khuất, thách thức với gió
triều, với mây
nổi.
Vườn vải,
nhắc vụ án Lệ chi viên (trại vải) đưa đến cái chết thảm khốc của Nguyễn
Thị Lộ, Nguyễn Trãi và người thân ba họ.Côn
Sơn trăng chỉ
Nguyễn Trãi vì khi vụ án xảy ra đang về vườn ở Côn Sơn. Trăng, hoặc
trăng/sao, còn chỉ sự trong sạch vô tội của Ức Trai do câu thơ giải oan
của Lê Thánh Tông sau này: Ức
Trai tâm thượng quang khuê tảo. Còn suối
Giải oan mà
người chăn bò ngày nào chẳng chân
trần dẫn đàn
bò lội qua
lại dẫn đến một điển cố khác, khi Trần Nhân Tông rời kinh thành lên tu Yên
Tử, các cung nữ đi theo nhà vua đến đây, nhảy xuống suối chết, oan nhưng
suối cứ được gọi là Giải oan. Bởi lẽ, trong cuộc đời vô thường như bức
tranh vân cẩu, núi Yên Tử như một cái neo khổng lồ neo những đám mây
thuyền bồng bềnh trên những ngọn thủy triều gió.
Tất cả những oan
khổ lịch sử
của một vùng đất địa linh nhân kiệt ấy được tác giả gọi là tội
trần. Có thể rằng đó là một tội thực,tội (ác) trần (trụi).
Nhưng cũng có thể là một lỗi trần gian. Chính chữ tội
trần này làm
cho người ta nghĩ rằng người chăn bò không phải là người trần, mà là một
trích tiên nào đó bị biếm xuống trần để chịu tội. Hoặc người tiên, người
của một không - thời gian khác, sống vương víu trong một thế giới nhiều
kiêng khen, làm sao không mắc tội trần?
Đến đây, người chăn bò bỗng không còn chăn những con bò thực nữa, mà Chăn
bò Côn Sơn, tức chăn những dãy núi vùng Đông Bắc, Côn Sơn, Yên
Tử có hình dạng giống những con bò. Thế là, ông mang một tầm vóc vũ trụ.
Cộng thêm tầm vóc nhân loại của Người Chăn Chiên. Hay chí ít cũng của
Người Chăn… Chữ! Dựa vào một sự kiện có thật, mang tính tự truyện, thi
nhân kể về một hành trình khác, mang tính tinh thần của người biết vượt
thoát ẩn
ức cá nhân của
mình bằng kinh nghiệm văn hóa - lịch sử của nhân loại, vượt thoát cái tôi
đơn ngã để trở thành cái tôi đa ngã bằng những bóng
chữ, những ngó
lời, những từ tình,
sáng tạo và thanh lọc.
12
Người trẻ ưa xê dịch không gian
gọi là du lịch.
Người già ưa xê dịch thời gian
gọi là thư tịch.
(Từ Tình - Đoản ngôn)
Tóc bạc chữ mầm xanh thiên lý
Tuổi Cao Biền tim vị thành niên
(Từ Tình - Lời xanh)
Nợ một khoản bạc đầu chưa trả hết
Lãi mẹ lãi con lụy mấy kiếp lời.
(Từ Tình - Nợ)
Tuổi trẻ trong
thơ Lê Đạt có tính lưỡng giá. Một mặt, có giá trị tiêu cực, vì nó đồng
nghĩa với tuổi
dại, tuổi lú lẫn, đầu đời, đầu tuổi…, chỉ sự non nớt, dẫn đến
nhầm lẫn. Mặt khác, đây là giai đoạn đẹp nhất của đời người, lúc con người
yêu tự do, giàu sáng tạo, khát khao lý tưởng, can đảm, hào phóng và độ
lượng. Nhưng thời gian sẽ cướp mất tuổi trẻ của mỗi người: cái
ngâymất đi thì cái
thơ cũng
chẳng còn. Giữ được thơ, họa chăng chỉ có những chân
nhân như
Trang Tử và những thi
nhân, như…
Nhưng, giữ được anh nhi, thi nhân lại rơi vào một bi kịch khác: sự lệch
pha giữa tâm hồn và thể xác, giữa tôi và cuộc đời. Già mà trẻ thì tạo ra
bi kịch, còn trẻ mà già thì tạo ra hài kịch. Bởi thế, hình tượng ám ảnh
nhất trong thơ Lê Đạt đó là tóc
bạc, một dấu hiệu của tuổi già, sự trải nghiệm, sự đau khổ: tóc
bạc ("Nắng
tắt tuổi chiều mưa nặng hạt/ Đầu hồi nghe tóc bạc lạnh rơi", "Mi rợn liễu
rờn xanh xao xác/ E đầu ta tóc bạc lầm nhà"), bạc
đầu ("Thời
gian mù bạc đầu lau ăn lối"; "Tóc
bạc vằng vặc trắng/ Gối bạc đầu vào đâu”), bạc
tóc ("Rõ
tám hướng riêng nhà ai khuất góc/ Nắng đơn phương tháp bạc tóc bất thường"),trắng
tóc ("Hoa
đào mải giục môi em thắm/ Mặc hoa mơ xui trắng tóc anh già”), tóc
dại ("Ô
che cùng khung xuân cụp lại/ Đầu trần tình tóc dại dầm mưa"), tóc
muộn ("Tóc
muộn cuối hè heo sớm/ Lá vàng thu ỡm ờ thư"…)
Trắng, bạc càng nổi hơn khi đối lập hoặc liền kề với xanh,
xuân, biếc cũng
tràn ngập thơ Lê Đạt: ga
xanh ("Đời
tốc hành/ một ga xanh sót lại"), tầm
xanh ("Tóc
bạc tầm xanh qua cầu với gió"), phải
xanh ("Đại
lộ trắng những điều con gái/ Lòng phải xanh quên đèn đỏ sang đường"), xanh ("Mắt
bão đã qua xanh còn dốc ống/ Lũ quét đêm rừng xác mộng dềnh sông"),
đặc biệt cặp đôi mâu thuẫn logic xuân
già ("Mưa
mới vườn xưa cây hỏi tuổi/ Xuân già e hẹn lỗi mơ non")…
Bi kịch khoảng cách xuân
già/ mơ non, tóc bạc/ tầm xanh… không phải ai cũng giải quyết
được. Ngày xưa, Nguyễn Công Trứ xóa bỏ khoảng cách này bằng sự đánh tráo
thời gian một cách hài hước: Ngũ
thập niên tiền ngã thập tam (Năm
mươi năm trước anh hai ba tuổi). Còn Dương Khuê thì ngậm ngùi tuyệt tác Hồng
hồng tuyết tuyết. Lê Đạt vừa hài hước vừa ngậm ngùi:
Gắng chữ với thời gian tri kỷ
U thất tuần bồ nhí mộng hăm
(Từ Tình - Bồ nhí)
Hăm trong
đối sánh mới với thất tuần có nghĩa là hai
mươi, hăm mốt, hăm hai…, tuổi hăm (tuổi
băm) và khoảng cách giữa hai tuổi ấy làm cho giấc mơ về tuổi hai mươi, trở
thành mộng
hâm, thậm chí chữ hăm được
hiểu theo nghĩa bệnh lý như đứa trẻ bị hăm. Mâu thuẫn này chỉ có thể hóa
giải được bằng sáng tác, gắng
chữ, để thời
gian trở thành tri
kỷ. Nhà thơ, trong nghĩa này, đúng là kẻ tự ăn thịt mình mà
lớn lên.
13
Cái hấp dẫn nhất trong đời một nhà văn không phải
chuyện những chìm nổi tình trường mà
chuyện phiêu lưu trong phong cách của
anh ta.
(Từ Tình - Đoản ngôn)
Bút pháp là một hành động văn hóa chống lại
sự xáo trộn phá hoại của thời gian,
họ hàng
với cái chết. Nó cũng là lời giải đáp
cho câu
hỏi tồn tại hay không tồn tại của tác
phẩm.
(Từ Tình - Đoản ngôn)
Theo Francis Ponge, tất cả nỗ lực của nhà thơ
là tìm cách biến những vật dụng
(objet) đời
thường thành những vật chơi (objeu)
đời chữ.
(Từ Tình - Đoản ngôn)
Thơ bấy lâu nay lạc mất mục đích của mình, khuất thân làm công cụ. Mục
đích Lê Đạt, và những đồng thi sĩ của ông, là đưa thơ về với thơ. Tức tạo
ra những đồng đẳng. Đành rằng, sáng tạo này chẳng phải của riêng ai, nhưng cách
sáng tạo đồng
đẳng của Lê Đạt là hết sức độc đáo và trên mọi cấp độ. Ông lấy chữ làm
trung tâm và cho nó tự "lạ hóa" mình bằng các biến điệu ngữ âm, ngữ pháp
và ngữ nghĩa thành các chữ
nhịu, thành sự ngọng
nói. Thi pháp chữ, thi pháp câu và thi pháp nghĩa, ba chân
kiềng ấy thành thi
pháp Lê Đạt,
thành bút
pháp (écriture)
của ông.
Trước đây, có người ví mỗi bài thơ Lê Đạt như một chiếc bánh lá không
nhân. Người đọc bóc gỡ hết lớp lá ngôn từ này đến lớp lá ngôn từ khác để
cuối cùng thất vọng, vì không thấy cái hạt nhân tư tưởng đâu cả. Lúc ấy,
tôi đã ngầm biện hộ cho ông rằng thi nhân không làm thơ để "diễn tư
tưởng", thứ mà ông ngán tận óc. Lê Đạt làm thơ bằng chữ. Tư tưởng thơ, bởi
vậy, chính là thẩm mỹ ngôn từ, cái mà người đọc thích khoái khi thực hành
thao tác bóc, khi đồng hành nhà thơ "tha thẩn chữ ngã ba".
Rồi chính tôi cũng thấy thơ Lê Đạt tản mạn. Hình như sự tản mạn làm tăng
cảm giác thơ ông là sự lưỡng lự giữa kỹ thuật và nghệ thuật. Bích Khê cũng
như vậy. Còn Hồ Xuân Hương tuy rất kỹ thuật, nhưng cái triết lý phồn thực
đã kết bó thơ bà thành một chỉnh thể nghệ thuật. Lê Đạt hình như thiêu
thiếu một tư tưởng lớn như vậy. Dĩ nhiên, người làm thơ không phải cứ chăm
chắm đến tư tưởng, nhưng một nhà thơ lớn bao giờ cũng đột ngột xuất hiện
một tư tưởng lớn ở chặng cuối hành trình thẩm mỹ của mình.
Tư tưởng lớn của Lê Đạt chính là bút pháp của ông. Ecriture Lê Đạt với sự
cố ý làm sai, làm lệch, mắc lỗi, thậm chí kháng chỉ, là sự vi phạm các
loại trật tự hiện hành, trước hết là trật tự ngôn ngữ. Sự vi phạm tập quán
lập ngôn này xuất hiện ở mọi cấp độ, từ vi mô một âm vị đến vĩ mô toàn bộ
diễn ngôn. Bởi thế, bút pháp Lê Đạt chính là cái
nhìn thế giới của
nhà thơ.
Trước hết, đây là một cái nhìn mang tính kỹ thuật. Nhưng không phải là thứ
kỹ thuật khéo
tay của thời
đại thủ công, mà kỹ thuật trí
tuệ của thời
đại công nghệ cao và điện tử tin học. Lúc này từ kỹ thuật đến nghệ thuật
chỉ còn một bước. Thậm chí, kỹ thuật chính là nghệ thuật. Thơ Lê Đạt, quả
thực, nhiều lúc khó phân biệt đâu là kỹ thuật đâu là nghệ thuật.
Tuy vậy, nghệ thuật của Lê Đạt không thiên về phía khoa học, phía ánh
sáng, mà ở vùng do dự giữa ánh sáng và bóng tối. Đó là không-thời gian của bóng chữ,
của ngó lời,
của từ (lúc
này hiểu là từ trường, hoặc trường ngữ nghĩa) tình. Nhà thơ đề cao tiềm
thức, vô thức của phân tâm học và siêu thức (cảnh giới ngộ) của
thiền.
Cuối cùng, Lê Đạt coi nghệ thuật là trò chơi.
Và, thi nhân chính là người chơi.
14
Điều đáng buồn nhất đối với một nhà thơ là
ly kỳ trong đời thực và tẻ nhạt trong
đời chữ.
(Từ Tình - Đoản ngôn)
Phần lớn các tôn giáo đều quá nghiêm túc,
chỉ có Thiền là biết đùa. Hermann
Hesse
cho rằng: "Cái nghiêm túc là một hiểu
lầm
xuất phát từ sự phóng đại giá trị
của
thời gian. Trong vĩnh hằng, thời gian
không tồn tại.
Vĩnh hằng là một khoảnh khắc dài vừa
đủ
một lời bông phèng".
(Từ Tình - Đoản ngôn)
Icarơ khối nằm nghiêng đá lạnh
Nợ chân trời mây động cánh đòi bay
(Từ Tình - Tượng Icarơ)
Lê Đạt ý thức sâu sắc rằng ông là sản phẩm của chữ. Chữ
bầu nên nhà thơ. Tuy nhiên, mỗi một nhà thơ đều có một cuộc
sống kép: đời
thực và đời
chữ. Lê Đạt ưu tiên đời chữ. Ông thấy sống trong đời chữ tự do
hơn, sáng tạo hơn và, do đó thú vị hơn. Lê Đạt coi thơ là cuộc chơi lớn
của đời mình, thậm chí là cuộc đời mình. Chơi với chính mình và với người
khác.
Trong ván thơ này, Lê Đạt là một người chơi
đẹp. Bởi ông biết rằng chơi thơ không phải là một cuộc chơi cổ
điển có người thắng kẻ thua, đối
thụi, theo nguyên lý loại trừ, mà là cuộc chơi hiện đại cả hai
cùng thắng, đối
thoại, theo nguyên lý bổ sung. Giá trị cuộc chơi, vì thế, là
lớn hơn không. Bởi lẽ, mỗi người chơi đều chơi hết mình,và quan trọng hơn,
không ngừng sáng tạo cách chơi,
kể cả luật
chơi, khiến cho trò chơi - thơ không ngừng phong phú, hấp
dẫn.
Nếu Tản Đà là người chơi trong đời thực để từ đó chơi trong đời chữ, thì
Lê Đạt, ngược lại, là người chơi trong đời chữ để được chơi trong đời
thực. Từ chỗ chơi thơ đến chỗ chơi đời có thể cùng một nguyên tắc chơi cả.
Người chơi Lê Đạt vừa là người trong cuộc, chơi trung thực, hết mình, vừa
là người ngoài cuộc bình thản nhìn mình và người khác chơi, thậm chí đặt
mình vào địa vị của người khác để cùng chơi. Cái tôi đa ngã này khiến Lê
Đạt không coi cái gì trên đời này là nghiêm trọng cả, trái lại biết nhìn
đời một cách hài hước, khoan hòa độ lượng. Thái độ của một chân
nhân.
15
Phố cũ chia tay ngày nắng tắt
Chớp còn nháy biển mắt mưa cơn
(Từ Tình - Chia tay)
Si mấy mùa chờ cây đứng ngủ
Tóc xù râu tủa chữ hoang vu
(Từ Tình - Cây si)
Như em bé viễn dương
thuyền rãnh nhỏ
Đông lạnh thơ ngây
cảng trữ Vịnh bạc
đầu
Quẫy sáng đuôi vài thủy nữ
Buồm bềnh
vai
bướm
thuyết minh xanh
(Từ Tình - Thuyết minh xanh)
Thơ Lê Đạt là ngọn núi Vô Sơn. Rừng không có cửa vào.
Núi không có lối lên. Ai muốn trèo đỉnh phải tự mình mở lối. Và ngay khi
gót chân vừa nhấc khỏi mặt đất, lối đi ấy tự động khép lại. Thơ Lê Đạt,
bởi thế, bao giờ cũng nguyên sinh. Rồi chính sự trinh nguyên ấy lại dẫn dụ
những bàn chân. Mở lối.
(Bốn chín ngày Lê Đạt)
-------------
(*). Tác phẩm Lê Đạt: Bóng
chữ, Hội nhà văn, 1994; Ngó lời, Văn học, 1997; U75
Từ tình, Phụ nữ, 2007.
1. Xem thêm Đỗ Lai Thúy, Trần
Dần - một thi trình sạch, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 4,
5-2008.
2. Xem thêm: Đỗ Lai Thúy, Đi
tìm ẩn ngữ thơ Hoàng Cầm trong Phân
tâm học và tình yêu, Văn hóa Thông tin, 2004.
3. Xin xem: Cao Xuân Hạo, Về
lịch sử của khái niệm "chủ ngữ" trong Tiếng
Việt văn Việt người Việt, Tre, 2001.
4. Xin xem: Đoàn Phú Tứ, Đi
tìm chủ từ trong vài đoạn văn "Đoạn trường tâm thanh", Hội Văn
hóa Việt Nam - Ban ngôn ngữ văn tự, 1949.
5. Xem thêm: Đỗ Trinh Huệ (biên khảo), Văn
hóa tín ngưỡng gia đình Việt Nam qua nhãn quan học giả L. Cadière,
Thuận hóa, 2000. |
|
|
|
Lê Đạt  |
|
|
|
|
|
|
|
|
Trẻ Lê Đạt

1. Đọc Lê Đạt, dù ở bất kỳ chủ đề nào, người ta cũng thấy lồ lộ một nghịch
lý. Lê Đạt, cái ông già trên cả U75 ấy, sao mà trẻ! Trẻ đến bất ngờ.
Trẻ Lê Đạt không
phải ở thể xác. Thứ quà tặng mà thiên nhiên ban phát một lần cho mỗi người
như nhau. Nhưng, của trời trời lại lấy đi. Bởi thế, nhân loại đã phải chi
trả đến vô vọng nhiều tâm sức để tìm ra phương thuốc trường sinh bất lão.
Lê Đạt đề xuất với chúng ta một thứ trẻ khác, nhiều cơ may hơn, bởi ít phụ
thuộc vào thiên nhiên hơn, là trẻ tâm hồn. Nói Lê Đạt là ở phương diện
này.
Tuổi Cao Biền tim vị thành niên
2. Không phải cưa sừng làm nghé. Lê Đạt có một quan niệm rất độc đáo về
trẻ. Người trẻ, theo ông, là người có ngôn ngữ mới, tức tư duy mới.
Và, với nhà thơ, thì "cái trẻ, cái già của nhà thơ quyết định không phải
đo ở tuổi trời, mà ở nội lực chữ". Tức gia tăng hóa trị chữ để tăng
năng suất nghĩa. Kể cả bằng phương pháp cấy chữ để phát nghĩa mới.
Có tư tưởng mới là quan trọng. Nhưng, với một phu chữ như Lê Đạt, cách
phát tư tưởng đó còn quan trọng hơn. Hình như, trong thế giới hiện
đại, khi mục đích thường được lấy ra để bào chữa cho phương tiện, thì
chính cái cách lại tố cáo một thực chất.
3. Như vậy, để trẻ, thì tuổi trẻ vừa là một lợi thế vừa bất lợi. Một mặt,
tuổi trẻ đồng nghĩa hăng say, táo bạo, thích cái mới, nhưng, mặt khác,
tuổi trẻ còn là thời kỳ học tập, làm theo, noi gương cha chú, truyền
thống. Chính Lê Đạt cũng từng nói về tuổi trẻ của mình Thuở ấy tôi rất
già. Mở miệng khuôn tổ tiên rập nói. Bởi thế, muốn trẻ, tức muốn có
một ngôn ngữ mới, ngôn ngữ riêng của mình, nhà thơ phải vừa theo truyền
thống vừa chống lại truyền thống, một thứ vô thức tập thể, nhất là những
giả truyền thống. Điều này đòi hỏi một can đảm chữ và cả... thời gian.
Không phải ưa nghịch lý mà Picasso nói: "Người ta cần rất nhiều thời gian
để trở nên trẻ".
4. Trẻ Lê Đạt, như vậy, là một đóng góp độc đáo và có chiều sâu của
nhà thơ về khái niệm trẻ. Và chúng ta cũng dễ hiểu hơn tại sao Lê
Đạt càng già càng trẻ. Những người chết trẻ thì sẽ sống mãi. Nhân đây, xin
nhắc lại một bài thơ nổi tiếng thuở còn chưa trẻ của ông nói về già:
Những người sống lâu trăm tuổi
Y như một cái bình vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại.
Đỗ Lai Thúy
|
|
Tiểu luận |
|
|
|
Đọc “Tiểu Luận” Của Lê Đạt- 1
Đỗ
Ngọc Thạch |
|
|
|
Lê Đạt (1) có
hai tập tiểu luận, đoản ngôn (Theo Lê Đạt, “Đoản ngôn” là một hình thức suy
nghĩ ngắn gọn về nghệ thuật và cách ứng xử trong cuộc đời. Thể thơ đoản ngôn
này thoải mái hơn thể thơ hai-kâu vì nó viết theo kiểu thơ văn xuôi) được
xuất bản liên tục trong hai năm liền là Đối
thoại với đời và thơ (ĐB
Trẻ, 2008) và Đường Chữ (ĐB
Hội Nhà Văn, 2009; 644 trang).
Hơn hai tháng sau khi qua đời, bạn bè Lê Đạt đã tập hợp những bài viết, phát
biểu của ông về thơ và về chuyện đời, chuyện người trên các tờ báo lớn trong
nước, in trong tập sách Đối
thoại với đời và thơ. Cuốn sách gồm 5 chương: Dân
chủ và vốn xã hội; Về văn hóa và tính cách Việt; Khoa học và nghệ thuật,
Nghĩ về thơ và cuối
cùng là Đoản ngôn. Trong
phần phụ lục của sách, độc giả có thể tiếp cận những bài viết xúc động của
bạn văn, thơ dành cho ông, trong đó có cả bức thư cảm động cô con gái Đào
Phương Liên gửi cho bố mình trước khi tiễn ông đến nơi an nghỉ cuối cùng.
Phần phụ lục còn cung cấp nhiều hình ảnh của Lê Đạt và bạn bè.
Sau “Đối thoại với đời và thơ”, “Đường
chữ” (một sự “tập hợp chữ”
khá đồ sộ: 650 trang in) là cuốn sách thứ hai của Lê Đạt được xuất bản kể từ
khi nhà thơ “phu chữ” qua đời. Đường
Chữ của Lê Đạt
gồm có 4 phần:Thơ, Di cảo, Đoản ngôn và Tiểu
luận. Đọc Đường
chữ, ta thấy lịch sử một đời người giữa thăng trầm của dân tộc, và
cuộc kiếm tìm không mỏi của một “phu chữ” trong
rừng chữ nghĩa.
Trong số những nhà thơ cùng thời, cùng nhóm “Nhân văn-Giai phẩm”, Lê Đạt là
một phong cách độc đáo, một “nhân - cách - thơ” rất…Lê Đạt, Một-Người-Thơ “ngây
ngơ không biết lối về già”:
“Đời tốc hành
một ga xanh sót lại
Một góc tuổi mải tàu
thơ dại mãi
Tìm nhà quên mất số lớn khôn”.
Chính vì thế, Di sản văn
chương của Lê Đạt để lại
không nhiều về số lượng nhưng có độ phong phú và sức nặng của trọng lượng
nghệ thuật bởi mỗi câu chữ của Lê Đạt, theo cách nói của Maia “được luyện từ
ngàn tấn quặng chữ”. Qua toàn bộ di sản của Lê Đạt, người ta có thể hình
dung được chân dung của một người lao động nghệ thuật đích thực: người “Phu
chữ” không quản ngại gian lao, vất vả trong việc luyện chữ, tìm chữ. Và đến
những trang viết cuối cùng của cuộc đời Lê Đạt, một phương diện khác, dẫu đã
từng ẩn hiện trong những sáng tạo nghệ thuật của ông, mới thực sự hiện hình
rõ nét: chân dung Lê Đạt. Đó
là các bài tiểu luận như:Vân chữ, Thư
Ép-phen, Lang thang trang lần quê chữ tìm mình, Vốn chữ, Cầm tên em đi tìm
…và đặc biệt là bài Đường
chữ -
bài tiểu luận được lấy tên chung cho tập sách
Đường chữ.
*
Trước hết, xin nói về những bài viết của bạn bè về Lê Đạt. Phải nói ngay
rằng, với những người “ngây ngơ” như Lê Đạt, nếu không có sự nhiệt tình của
bạn bè, Lê Đạt không thể đến được với bạn đọc như hôm nay: trước hết là
những bài giới thiệu Lê Đạt trên các báo chí (thường là Phỏng vấn, trò
chuyện…) và sau là thu gom bản thảo, bút tích của Lê Đạt để in thành sách…
Nhìn chung, những bài viết của bạn bè về Lê Đạt đều gặp nhau ở nhận định: Lê
Đạt đã vượt qua “đại nạn” NV-GP theo cách của riêng anh, để trở nên một Lê
Đạt như chúng ta biết, rất ít nói và rất khiêm nhường, rất súc tích cả trong
lối sống lẫn trong phát ngôn. Có được như vậy bởi Lê Đạt rất từng trải, và
theo Nguyên Ngọc (2) thì
chỉ những người thật từng trải qua trầm luân đắng cay lắm mới có được, thâm
trầm và nhân hậu trong cuộc sống, sâu sắc và uyên thâm trong tri thức,
chín chắn mà mới mẻ, luôn mới mẻ và dồi dào đến lạ trong sáng tạo. Như
một Người Hiền. Nói Lê Đạt
là Người Hiền thật
chính xác bởi Lê
Đạt là người có ý thức sâu sắc, rõ rệt hơn cả về con đường đi của mình, cũng
là con đường đi của người trí thức, người nghệ sĩ chân chính trong những
điều kiện khắc nghiệt của chuyển động lịch sử và xã hội đầy éo le của đất
nước thời mình
sống. Và Lê Đạt hiểu điều đó vừa bằng một tâm hồn và một tài năng nghệ sĩ
lớn, vừa bằng một tri thức lớn về văn hóa văn minh dân tộc và nhân loại mà
anh kiên trì chiếm lĩnh suốt đời. Ở xứ ta, việc vinh danh ai đó là văn nghệ
sĩ lớn thường là dành cho những văn nghệ sĩ đồng thời là quan chức lớn cho
nên Lê Đạt được đánh giá như vừa nói trên cũng không hề đơn giản, cũng như
tại sao chỉ sau khi chết thì những suy nghĩ, phát biểu của Lê Đạt về cuộc
đời nói chung và văn thơ nói riêng - gọi là “Tiểu luận”, “Đoản ngôn” - mới
được xuất bản đàng hoàng!...Dù sao thì bây giờ bạn đọc đã có trước mặt hai
tập Tiểu luận, Đoản ngôn của Lê Đạt là Đối thoại với
đời và thơ và Đường
Chữ, chúng ta sẽ biết
được nhà thơ đã nghĩ gì về cuộc đời, về văn thơ và sẽ phần nào “Giải mã” tập
thơ Bóng chữ (1994)…
Thông thường, nói đến sách “Tiểu luận” là phần đông ngần ngại. Song, với
Tiểu luận và Đoản ngôn của Lê Đạt, tôi nghĩ rằng người đọc sẽ nhanh chóng bị
cuốn hút bởi đó là những suy nghĩ, chiêm nghiệm qua hơn nửa thế kỷ của cả
một đời người, đời thơ của một con người đặc biệt Lê Đạt. Đặc biệt vì Lê Đạt
là một trong những nhân vật trung tâm của vụ án Nhân văn-Giai phẩm - vụ kỳ
án lớn nhất trong lịch sử văn học Việt Nam. Đặc biệt vì Lê Đạt đã “rũ bùn
đứng dậy sáng lòa”, đã vượt qua đủ “99 kiếp nạn” để thành đắc đạo!
Những người bạn
gần gũi Lê Đạt đều thấy ông luôn
sống với cái tâm đắc đạo: nhà
thơ Lê Đạt luôn giữ một tâm thế rất hồ hởi, dễ gần. Người ta cứ nghĩ, sau
khi bị đày ải trong “bể khổ” của cuộc đời, Lê Đạt sẽ “thân tàn ma dại”, sẽ
sống u uất…nhưng ông thường nói với người tới thăm ông: “Có người cứ bịa ra
tâm trạng của tôi, chứ bản thân tôi không có thời gian ngoái nhìn quá khứ.
Không nên quá quan trọng cuộc đời, vì khi ta quan trọng cuộc đời tức là ta
tự đánh giá mình cao quá đó thôi! Bình thường tâm là đắc đạo!”.Với cái tâm
đắc đạo ấy, ông trút lòng mình vào “kỳ trận chữ”. Suốt mấy mươi năm qua, Lê
Đạt chưa bao giờ ngừng sáng tác, ngừng suy nghĩ. Lê Đạt thường nói với bạn
bè, khi viết, ông luôn tràn đầy hy vọng và độ lượng, bao dung. Mỗi ngày ông
say sưa viết 2-3 tiếng, kể cả khi đã qua tuổi “xưa nay hiếm” 70 rồi tới tuổi
80. Chính vì thế mà Hoàng Hưng gọi
Lê Đạt là “Người lạc quan
ngoan cố”(3). Từ “ngoan cố” ở
Lê Đạt là do những người “chống NV-GP” đặt cho (“tên Nhân văn ngoan cố”),
nay đặt cạnh từ “Lạc quan” thì quả là “rất Lê Đạt” bởi dường như chỉ có Lê
Đạt mới luôn Lạc quan, Lạc quan dài dài như thế! Chính sự Lạc quan đã tạo
nên phong cách hóm hỉnh mà sâu sắc ở những suy nghĩ của Lê Đạt. Chẳng hạn
như khi ông nói “Văn hóa là bình tĩnh”, và khi ông lại nói “trong mọi thứ
phải vội thì không nên vội khi làm chữ và khi tự tử” thì ý tưởng trở nên thú
vị rất nhiều. Mặc dù Lê Đạt đã có
một chiếc máy vi tính rất high-tech, nhưng trên bàn phím vẫn có những tờ
giấy viết tay, ông đã giải thích: “…à, đấy là những tờ
nháp Đoản khúc. Đoản khúc là những suy nghĩ về nghệ thuật, về sự đời. Suy
nghĩ thì phải từ tốn chứ, vội gì đâu mà phải gõ tanh tách. Đấy, người ta cứ
nhầm hiện đại với vội vàng, chụp giật. Phải có thì giờ để suy nghĩ, trừ khi
không chịu nghĩ. Sợ nhất là chủ trương chạy đua theo các dịp kỷ niệm. Ngay
kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long cũng thế. Tại sao ta cứ bịa ra các thứ nhân dịp
ấy để tự trói buộc mình? Đã từng có vụ một nhà hát đổ sập ngay trong ngày
khai mạc nhân dịp… rồi mà không sợ hay sao?”.
Chính vì có sự “bình tĩnh” đó mà những nhận định của Lê Đạt về Thơ không hề
cực đoan hoặc cảm tính như bao nhiêu người khác và có phong cách “rất Lê
Đạt”: “ Theo tôi, Trần Dần là trưởng môn phái của thơ cách tân thế hệ chúng
tôi, nên anh ấy rất quyết liệt, bận tâm với việc đổi mới thơ. Nhưng cái
nhược điểm của anh là hơi cứng nhắc, hơi ý chí chủ nghĩa. Tôi vẫn coi thơ
Trần Dần là một bản giao hưởng của lý trí. Còn Hoàng Cầm thì anh ấy không
bận tâm về đổi mới, cách tân thi ca nhưng giời cho anh ấy thơ và tập Kinh
Bắc là một tập thơ rất hay và có nhiều cái mới…Thế hệ trẻ rất được nhưng
chưa nên nói nhiều về nó, họ là tương lai của thi ca Việt Nam nhưng họ cần
phải thấy được trách nhiệm lớn lao và phải lao động thật sự nghiêm túc hơn
nữa, học nhiều hơn nữa. Cái quan trọng là họ khác Thơ mới tiền chiến. Phần
sôi nổi của thơ trẻ cũng quan trọng, nhưng phần lắng sâu mới là điều cốt lõi
và phần lắng sâu trong thơ trẻ hơi ít trong khi phần sôi nổi thì hơi nhiều.
Với các nhà thơ trẻ, cái khẳng định mình là quan trọng, nhưng cái suy nghĩ
về bản thân mình cũng rất quan trọng. Các nhà thơ trẻ để tránh khỏi nhạt
nhẽo, sáo mòn thì không nên đến cửa hàng đặc sản gọi cho mình một món bi
kịch và không nên tự bịa ra bi kịch để tập dượt vì bi kịch chẳng phải ở đâu
xa mà ở ngay trước mặt khi bạn chọn nghiệp làm thơ, thơ là một lạng cảm hứng
cộng với một tạ mồ hôi”(4).
Trong bài viết Chất
vàng mười Lê Đạt của nhà Phê
bình văn học Chu Văn Sơn
ngay sau khi cuốn “Đối
thoại với đời và thơ” của
Lê Đạt ra mắt, nhà PBVH đã nhiệt tình khẳng định: “Là một cuốn tiểu luận,
nhưng lối tiểu luận khá đặc biệt. Ta hoàn toàn có thể nói đến một phong cách
tiểu luận Lê Đạt. Từ chối lối tiểu luận hàn lâm với những logic hình thức
nặng nề, những trích dẫn rườm rà, cũng không giống những lối tiểu luận nghệ
sĩ thường gặp, vốn ưa phóng túng đến độ la đà thừa thãi. Tiểu luận của ông
là triết luận đầy chất thơ. Mỗi câu đều có được sự cô đúc, súc tích của một
đoản ngôn. Thậm chí, có thể nói không ngoa rằng: tiểu luận Lê Đạt được dệt
từ những đoản ngôn thông minh, mà mỗi ý tứ đều muốn trở thành một châm ngôn,
dù không định áp đặt cho người đọc bất cứ lẽ gì gọi là tất định. Đây cũng là
nét độc đáo của một phong cách viết coi trọng nguyên lí đối thoại” (5).
Trong cuộc đời, ngoài cặm cụi, hì hục viết như một “Phu chữ”, người bạn
trung thành nhất của nhà thơ Lê Đạt là sách.
Lê Đạt nói: “Lúc khó khăn nhất, tôi đọc sách, tránh “nhàn cư vi bất thiện”.
Khi đọc sách, tôi được giao lưu với những bậc đại gia của văn hóa nhân loại,
làm cho mình sang trọng lên. Điều quan trọng là luôn sống bao dung và giữ
gìn sự hài hước”. Có thể nói, chính là Sách - Tri
thức nhân loại đã luôn tiếp
cho Lê Đạt năng lượng sống. Chính vì thế, Lê Đạt luôn “Trẻ” và không ngưng
nghỉ trong suy tư. Khi đã vào tuổi 80, nhưng gặp ông lúc nào cũng rất trẻ
trung. Cái bắt tay rất chặt. Tiếng cười luôn nổ ran. Ông nói mọi chuyện, từ
nghiêm túc đến đùa cợt đều “nhẹ như không”. Chính vì thế mà Lê
Đạt, con người rất thường lẩn khuất và hết sức giản dị ấy lại là một
cuốn tự điển sống hầu như bất tận. Cả về tri thức đông tây kim cổ, lẫn trải
nghiệm muôn mặt cuộc đời. “Có lẽ rồi chúng ta sẽ dần dần nhận ra khoảng
trống anh vừa để lại cho chúng ta hôm nay là một khoảng trống chẳng biết bao
giờ mới lấp được của một nhà hiền triết, người đã gian nan mà nhẹ nhàng đi
qua những tình thế chẳng hề đơn giản và dễ dàng của đất nước gần ngót một
thế kỷ qua” - cảm nghĩ đó của Nguyên Ngọc khi Lê Đạt “cưỡi hạc về Trời” cũng
là suy nghĩ của những người hâm mộ Lê Đạt. Nhìn chung, sau vụ “Nhân văn -
giai phẩm”, các “anh hùng, hảo hán” một thời đều gặp nhiều khó khăn về sinh
sống. Hoàng Cầm phải đi tô màu ảnh để sống, Trần Dần, Lê Đạt cặm cụi dịch
sách kiếm tiền. Nhưng Lê Đạt dễ thở hơn nhờ bà mẹ buôn bán nhỏ thỉnh thoảng
cho tiền. Chính vì thế, Lê Ðạt “trở lại tuổi ấu thơ” rất tự nhiên:
Tuổi lú lẫn ngược nhầm ga trẻ dại
Hay ngây ngô không biết lối về già
Thơ thẩn chữ ngã ba…
*
Có thể có người nghĩ rằng Lê Đạt giả ngây giả ngô để “qua mắt” “Nhà chức
trách”, riết như thế thành ra người ngây ngô thật? Cũng có thể là như vậy
phần nào, nhưng nghe cái cách xưng danh “kiêu hãnh ngầm” rất Lê Đạt thì ta
sẽ nghĩ khác:
Phó thường dân / phố
nhỏ vô danh / vô
giai thoại / Thành
tích / mấy
trang giấy sờn / mấy
câu thơ bụi /
núi Vô Sơn.
Hoặc: “Nhà thơ là người
thiểu số vùng sâu
vùng xa của ngôn ngữ, suốt đời
chưa sõi tiếng phổ thông”.
Ta hãy đặt câu hỏi tại sao Lê Đạt lại “đầu tư” nhiều cho “Đoản ngôn” trong
khi người ta đa phần đều thích “ăn to, nói lớn” và viết lách thì phải “ra
tấm ra món”, thậm chí nhiều chương hồi, nhiều tập rất hoành tráng? Câu trả
lời có ngay sau khi cuốn
“U75 Từ tình”, một
tập thơ và đoản ngôn
rất ấn tượng của
Lê Đạt vừa ra mắt: “Tôi tiếp tục làm một tập đoản ngôn. Độ hai ba trăm trang
gì đó. Già rồi nên có lẽ nên viết ngắn. Vả lại từ trẻ tôi vốn là một nhà thơ
nghèo nên hết sức tiết kiệm…Khẩu hiệu của tôi là: “Chữ
ngắn, tình dài, nghĩa
nặng”, thơ không nên nói
nhiều quá!”. Trong bài tiểu
luận Đường chữ, Lê Đạt lại
nói về cái sự “tiết kiệm chữ” này: “Lạm dụng những từ khoa trương rất không
tốt cho sức khỏe ngôn ngữ quốc gia và có nguy cơ cao dẫn đến nạn lạm phát.
Trong quốc sách tiết kiệm không nên quên tiết
kiệm ngôn ngữ. Đừng sài ngôn
ngữ như sài tiền chùa”.
“Đoản ngôn” là một hình thức suy nghĩ ngắn gọn về nghệ thuật và cách ứng xử
trong cuộc đời của Lê Đạt. Và người đọc như được tiếp cận với một nhà hiền
triết sâu sắc mà hóm hỉnh bởi những đoản ngôn của Lê Đạt thường bất ngờ,
nhiều dư âm và đa nghĩa. Người đọc có thể tìm thấy những đồng cảm riêng, thú
vị:
Người quân tử dùng mắt để nhìn
Kẻ tiểu nhân dùng mắt để nhòm
+
Kẻ thù của bình đẳng là chủ nghĩa bình
quân
+
Điểm tham quan nóng nhất của lịch sử là Suối Giải Oan
+
Chữ không cấp sổ đỏ cho bất cứ nhà văn nào
+
Nhiệm vụ của thơ không phải sản xuất ra chân lý, mà những chất cường cảm,
những viagra phục tráng khả năng chân lý
+
Các triết gia cảnh báo nhiều
về nguy cơ tha hóa mà hơi ít
về nguy cơ đồng hóa, nó cũng là
một hình thức tha hóa
+
Người ta có một cái đầu để làm khác
chứ không phải làm theo. Bất hạnh là
người có cái đầu máy photocopy.
+
Trong một bài thơ cổ điển, nghĩa thường
đến đúng hẹn. Trong một bài thơ hiện đại
nghĩa thường đến trễ giờ.
+
Cho rằng ngôn ngữ có thể hoàn toàn
giải mã được là loại trừ nghĩa
(sens) hoặc rút gọn nó thành những
định nghĩa (signification).
Định nghĩa minh bạch và hữu hạn
Nghĩa mơ hồ và bất tận.
Nghĩa có những khoảng trắng không thể
lấp đầy dành cho cơ may.
+
Tôi trọng những nhà thơ sinh sự với
văn phạm để tạo ra sự sinh của ngôn ngữ.
+
Viết là phép đối xử với văn phạm
như một bạn chơi, chứ không phải như
một nhân viên trật tự thô lỗ.
+
Trăng Ba Vì sao đổi chữ thiên di
+
Người đẹp lẩn khe hai dòng chữ tối
Thủ thư mù
lần lẻ một lối mê
+
Người ta thường đánh giá cái mới, cái chưa biết
bằng những cái đã biết rồi. Đó là nguyên nhân
sinh ra tình trạng oái oăm: thằng chết cãi thằng
khiêng.
+
Người ta thường hiểu lầm rằng nghệ sĩ cách tân
chủ trương xóa bỏ mọi gò bó. Không. Anh ta chỉ
đòi xóa bỏ những gò bó lỗi thời và phi nhân tính
để tự giác đề ra cho mình những gò bó tự do hơn.
Không có gò bó thì cũng không có nghệ thuật.
(9) Xin
xem thêm một số đoản ngôn của Lê Đạt ở cuối bài.
Chập mạch chấn động tình quên tiểu sử
Lang thang trang lần quê chữ tìm mình …
Lê Đạt cho rằng, “Mỗi công dân có một dạng vân tay. Mỗi nhà thơ thứ thiệt
cũng có một dạng vân chữ. Không trộn lẫn” (Vân
chữ). “Đã là một nghề thì phải có kỷ luật lao động. Không nên thụ động
thắp hương chờ mà phải chủ động gọi hứng đến. Công việc này đòi hỏi một kỷ
luật nghiệt ngã và gian khổ” (Nghiệp thơ)… Đọc tiểu luận Đường
chữ, có thể nhận ra, cuộc tìm “đường chữ”, “vân chữ” của ông là cuộc
tự nhận thức “trường kỳ và gian khổ” sau “đại nạn” Nhân văn giai phẩm.
Những vấn đề thời cuộc được ông đề cập, nhiều suy tư trong các bối cảnh sáng
tạo như bản sắc dân tộc (không phải là tiền có sẵn trong kho lấy ra xài, mà
càng hiện đại thì càng nhận ra sự phong phú, đủ đầy), trí thức (là thái độ
sống chứ không phải học vị), hay bình luận về khung cảnh tự do sáng tạo (một
nền văn hóa dân chủ lành mạnh không nên gồm quá nhiều đường một chiều), tinh
thần cách tân thơ (không nên kỳ thị bất kỳ thể thơ nào), chế độ tự kiểm
duyệt (lập ra hàng rào “thuế quan” nghiêm ngặt của cái siêu ngã) và càng thú
vị khi ông “trả lời” cho việc vì sao đến hơi thở cuối cùng vẫn không viết
nổi hồi ký Nhân văn giai phẩm…
Cách nói của Lê Đạt, dù ở bất kỳ vấn đề nào, ta cũng thấy như một nghịch
lý: “Tuổi Cao Biền tim vị thành niên”. Đó
không phải “cưa sừng làm nghé”. Đó là sự nuôi dưỡng tâm hồn luôn tươi trẻ.
Người trẻ, theo ông, là người có ngôn
ngữ mới, tức tư duy
mới. Và, với nhà thơ, thì “cái trẻ, cái già của nhà thơ quyết định không
phải đo ở tuổi trời, mà ở nội lực chữ”. Tuy nhiên, ta không khỏi ngậm ngùi
cùng nhà thơ trước một quy luật tất yếu:
Hoa đào mải giục môi em thắm
Mặc hoa mơ xui trắng tóc anh già .
Đọc tiểu luận, đoản ngôn của Lê Đạt ta thấy cháy bỏng khát vọng đổi mới thi
ca, chứa chan một tình yêu với cuộc đời - mà người ta thường gọi là tính
nhân văn cao cả. Chính điều đó tạo nên độ lớn, tầm cao của Thi nhân. Có thể
bây giờ, cái chức danh “Phó thường dân”, cái vẻ ngoài “ngây ngơ không biết
lối về già” đã khiến chúng ta chưa nhìn rõ tầm vóc thực sự của ông. Không
biết ông có phải chờ đợi “tam bách dư niên hậu”?
Từ lâu, người ta đã muốn tìm mối liên hệ tương đồng giữa Khoa học xã hội và
Khoa học tự nhiên. Sự xích lại gần nhau của các ngành khoa học trên nhiều
lĩnh vực đã hình thành một khoa học mới - khoa học liên ngành. Ở Việt Nam,
xu hướng này cũng được đặc biệt chú ý, song kết quả thì còn rất khiêm tốn …
Nay đọc bài những tiểu luận của Lê Đạt như Thơ
và Vật lý hiện đại, Lý tính phê bình, Văn hóa đối thoại, Lời quê và Cái
khác… thì tôi thấy thật thích
thú. Chùm bài tiểu luận này của Lê Đạt là sự tìm đến với những công trình
khoa học cơ bản thuộc những lĩnh vực “siêu khó” như vật lý lý thuyết và các
ngành khoa học hiện đại khác - mới thấy tính chất quảng bác của trí tuệ Lê
Đạt. Sự tiếp cận mới này của Lê Đạt, trước hết, như ông nói: “Cuốn sách (về
Enstein - Đ.N.T) đã dậy tôi rất nhiều về lý thuyết tương đối nhưng hơn thế
nó còn dậy tôi một bài học lớn lao vế cách sống và cách nghĩ của một người
tìm tòi” trong thời đại mới khi mà “… những câu nói "hội nhập", "toàn cầu
hóa" gần như đã trở thành lời nói cửa miệng của thế kỷ XXI”. Song, khi Lê
Đạt đi sâu vào những “Lý thuyết về những phôtông”, “Lý thuyết xác suất”, rồi
“Nguyên lý bất định”, “Vật lý lượng tử”,v.v…và rồi tìm “chứng cớ” giống nhau
với Thơ ca để đưa ra những kết luận như sau thì quả là vội vã:
“Lý thuyết về những phôtông đã khẳng định tầm quan trọng hàng đầu của những
cấu trúc gián đoạn thay thế những cấu trúc liên tục tăng chế ngự khoa học
cũng như thơ ca trong nhiều thế kỷ. Đã hết rồi thời đại của những chân lý
tuyệt đối. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, một nhà triết học Đức với trực giác nhạy
bén của một nghệ sĩ thiên tài đã bận tâm đến nguy cơ con người có thể bị
ngạt thở vì chân lý. Ai cũng biết xác suất là trung tâm của vật lý lượng tử
mà đã nói đến xác suất không thể không đề cập đến ngẫu nhiên, đến may rủi nó
cũng là cơ sở của thơ hiện đại. Những nguyên lý bất định, nguyên lý bổ sung
của vật lý lượng tử đã giải phóng nhân loại khỏi lý thuyết nhân quả tất định
từng nhắc cũng như những quy luật nghiệt ngã nhiều khi bảo thủ của ngữ
pháp”.
Sự nghiên cứu khoa học tự nhiên của Lê Đạt, như ông nói: “Tôi cũng xin phép
được cộng hưởng lời kêu gọi thiết tha của nhà bác học người Bỉ, Prigogine
cho một cuộc liên minh mới (nouvelle alliance) giữa khoa học tự nhiên, khoa
học nhân văn, triết học, văn học nghệ thuật nhằm tạo nên "một cái nghe mới
thú vị" đối với cuộc sống muôn màu muôn vẻ” - là một thái độ văn hóa đúng,
một hành động khoa học đúng. Song, để có được “một cái nghe mới thú vị”
trong cuộc liên minh mới này thì không hề đơn giản. Có lẽ những ý tưởng của
Lê Đạt trong chuyện liên minh mới này có xu hướng “vĩ mô” như Lê Đạt đã
khẳng định một chân lý: “Nhà khoa học không có tưởng tượng chỉ là một
công chức khoa học thồ một khối kiến thức nặng nề trên lưng như “cái bướu
của anh gù” (chữ của Nietzsche). Nhà nghệ thuật thiếu lý tính chỉ là một
nghệ sĩ thứ phẩm mắc bệnh vĩ đại cũng cần chữa trị hoặc nên đổi nghề”.
Nhìn chung, những bài tiểu luận của Lê Đạt ở khu vực này đã giúp người đọc
tiếp cận cái không khí của thời đại với những “tiến bộ như vũ bão của khoa
học tự nhiên” và ông muốn nhắn nhủ những người làm ở khoa học nhân văn không
thể cứ bảo thủ và giậm chân tại chỗ. Cách viết tiểu luận của Lê Đạt khá uyển
chuyển và cũng cô đọng, ngắn gọn gần như nguyên tắc viết đoản ngôn, bất ngờ
và lôi cuốn. Song, khi đi sâu tìm hiểu những vấn đề của khoa học tự nhiên mà
Lê Đạt đề cập thì có nhiều vấn đề dường như chưa ổn và tôi đã gặp sự “trao
đổi” của tác giả Đông La về
bài viết Thơ và Vật lý hiện
đại của Lê Đạt.
Vì thế, để hiểu đúng vấn đề, cách tốt nhất là ta hãy đọc lại bài Thơ
và Vật lý hiện đại của Lê Đạt
và bài trao đổi của Đông La (6).
Thơ và Vật lý hiện đại - Lê Đạt
Vào những năm 60 của thế kỷ trước, một
sự kiện văn học đã đẩy tôi vào một tình trạng hết sức trầm luân về vật chất
cũng như tinh thần.
Như thói quen mỗi khi gặp vận hạn tôi thường tìm đến sách như tìm đến những
người bạn tử tế và trường kỳ tận tuỵ. Tôi nói khó với Hội Nhà văn giới thiệu
xin một thẻ đọc thư viện Khoa học tại phố Lý Thường Kiệt.
Đây là việc tối cần thiết trên hai phương diện: một là kiếm sống, thư viện
có nhiều tài liệu có thể dịch sinh nhai, hai là bổ sung vốn kiến thức mà tôi
cảm thấy còn nhẹ ký cũng như thiếu cập nhật vì đã gần hai chục năm do bận
kháng chiến và hoạn nạn tôi không có điều kiện trau dồi.
Từ khi cầm bút tôi đã quan niệm việc cách tân thơ Việt là mục đích quan
trọng nhất của đời mình - lẽ dĩ nhiên có làm được hay không lại là một
chuyện khác). Một hôm một anh bạn trẻ (anh bạn trẻ thời đó hôm nay đã tóc
bạc: đó là nhà vật lý lý thuyết Đặng Mộng Lân) giới thiệu với tôi cuốn
“Emstein: cuộc đời, tư tưởng và lý thuyết” của Kouznetsov.
Lâu lắm tôi mới được đọc một cuốn sách khoa học viết hấp dẫn đến thế. Tôi
đọc đi đọc lại nhiều lần. Cuốn sách đã dậy tôi rất nhiều về lý thuyết tương
đối nhưng hơn thế nó còn dậy tôi một bài học lớn lao về cách sống và cách
nghĩ của một người tìm tòi.
Khoa học thực nghiệm cổ điển đã đem lại cho nhân loại những bước tiến lớn
thoát khỏi những vũng lầy mê tín nhưng nó cũng có nhược điểm là dễ khiến
người ta quá chú trọng đến những hiện tượng tai nghe mắt thấy mà lơ là những
khía cạnh sâu xa và bí ẩn của tự nhiên mà chỉ tư duy mới nhìn thấy.
Vật lý hiện đại (và thơ hiện đại) khuyến khích những giả thuyết thoạt nhìn
như rồ dại nhưng có khả năng mở ra những khía cạnh kỳ bí của ngoại giới
(cũng như thiết kế những tập họp chữ mới vượt qua biên giới cảm nhận sang
những vùng tri nhận phức hợp và quyến rũ, chuyển sự chú tâm của người làm
thơ vào những tác hiệu (siguifiants) đa nghĩa sống động hơn là vào những thụ
hiệu (siguifiés) minh bạch nhưng cằn cỗi).
Lý thuyết về những phôtông đã khẳng định tầm quan trọng hàng đầu của những
cấu trúc gián đoạn thay thế những cấu trúc liên tục tăng chế ngự khoa học
cũng như thơ ca trong nhiều thế kỷ.
Đã hết rồi thời đại của những chân lý tuyệt đối. Ngay từ cuối thế kỷ XIX,
một nhà triết học Đức với trực giác nhạy bén của một nghệ sĩ thiên tài đã
bận tâm đến nguy cơ con người có thể bị ngạt thở vì chân lý.
Ai cũng biết xác suất là trung tâm của vật lý lượng tử mà đã nói đến xác
suất không thể không đề cập đến ngẫu nhiên, đến may rủi nó cũng là cơ sở của
thơ hiện đại.
Những nguyên lý bất định, nguyên lý bổ sung của vật lý lượng tử đã giải
phóng nhân loại khỏi lý thuyết nhân quả tất định từng nhắc cũng như những
quy luật nghiệt ngã nhiều khi bảo thủ của ngữ pháp.
Chúng đã đánh một đòn chí mạng vào lý thuyết chết người "loại trừ vế thứ ba"
của logic cổ điển từng gây thảm họa cho loài người (mà không phải chỉ trong
phạm vi tư tưởng). Không nên quên hệ quả cao điểm của nó là định thức “Kẻ
nào không đi với ta là chống lại ta". Các nhà vật lý lượng tử đã góp phần
thiết kế cho nhân loại một phạm trù mở, cái khác. Từ trước đến nay tư duy cổ
điển chỉ vận hành trên hai trục đúng sai giờ đây cái vạc hai chân kia đã
thêm một trụ mới, trụ thứ ba về cái khai thác góp phần tạo nên một cách ứng
xử mới, mở ra kỷ nguyên đối thoại thay thế cho thói quen độc thoại chuyên
chế và bạo lực.
Hesenberg và Bohr được nhân loại tôn vinh không phải đơn thuần như những nhà
vật lý kiệt xuất mà còn như những nhà tư tường dân chủ quan trọng trong lịch
sử.
Không nên quên rằng khái niệm “những trạng thái chung sống" (états
coexistants), hệ quả của nguyên lý bổ sung đã xuất hiện trên diễn đàn vật lý
rất lâu trước khi khái niệm "chung sống hòa bình" xuất hiện trên diễn đàn
chính trị thế giới.
Bài viết này của tôi không phải để nói về những vấn đề thuần túy vật lý mà
chủ yếu là để nói lên lòng biết ơn của một nhà thơ già với vật lý hiện đại.
Tôi cũng xin phép được cộng hưởng lời kêu gọi thiết tha của nhà bác học
người Bỉ, Prigogine cho một cuộc liên minh mới (nouvene alhance) giữa khoa
học tự nhiên, khoa học nhân văn, triết học, văn học nghệ thuật nhằm tạo nên
"một cái nghe mới thú vị" đối với cuộc sống muôn màu muôn vẻ. [Xin xem thêm
bốn tiểu luận khác có liên quan của Lê Đạt (7)].
Còn đối với những người theo trường phái “Nghệ thuật thuần túy”, “Nghệ thuật
Tháp Ngà”…không liên can đến bất cứ cái gì thì hãy đọc bài tiểu luận nói về
mối quan hệ giữa các loại hình nghệ thuật Người
hàng xóm thân thiết (8)
của Lê Đạt.
*
Bài tiểu luận Đường
chữ của Lê Đạt là “bài
đinh”, là “Át chủ bài” (Át cơ) trong tập Đường
chữ của Lê Đạt. Trong bài
viết này, vừa có tính chất “tiểu sử” vừa có tính chất “tiểu luận”, lại có
đôi chút “Hồi ký” về cuộc đời “oan nghiệt”, cay đắng của Lê Đạt. Vì thế, bài
tiểu luận này vừa như là sự “Giải mã” tập thơ Bóng
chữ (1994) xôn xao thi
đàn một dạo của Lê Đạt vừa cho ta thấy quá trình hình thành “quan điểm thẩm
mỹ” của nhà thơ. Vì thế, có thể nói, nếu không đọc Đường
chữ thì không thể hiểu Lê
Đạt. Phần trích dẫn dưới đây chỉ
giữ lại “tính tiểu luận” tức những ý nói về quá trình hình thành “quan điểm
thẩm mỹ” của Lê Đạt:
“…Ngay từ nhỏ tôi đã ôm ấp mộng cách tân thơ Việt - lẽ dĩ nhiên lúc đó tôi
không ý thức được rõ rệt nên cách tân như thế nào. Sau Cách mạng tháng Tám,
nhà thơ ảnh hưởng đến tôi nhiều nhất là nhà thơ Xô-viếtMayakovsky (*).
Tôi thích những hình ảnh quả đấm hết sức táo bạo cũng như những bài thơ
quảng trường mạnh mẽ tham gia trực
tiếp vào quá
trình thay đổi xã hội của ông. Ảnh hưởng của Maya rất đậm nét trong những
bài thơ tôi cho in trên Giai
phẩm mùa Xuân và báo
Nhân Văn số một. Những hình ảnh sinh sự đã khiến tôi ít nhiều được công nhận
như một nhà thơ cách tân…
…Trong suốt hơn 30 năm đại hạn này, tôi có nhiều thời gian suy nghĩ về thơ
mình cũng như về thơ nói chung.
Tôi buồn rầu nhận ra rằng thơ tôi chưa có cách tân triệt để. Về cấu trúc mà
nói, nó vẫn chưa thoát khỏi thơ “Mới” những năm 1930. Tính cách tân của nó
chủ yếu chỉ là thay đổi dấu. Thiên hạ chủ yếu làm thơ ca ngợi (dấu cộng).
Tôi chủ yếu làm thơ phê phán (dấu trừ).
Thơ ca ngợi hay phê phán cũng đều trực
tiếp bị thúc đẩy
bởi thời sự. Việc tôi bị án treo bút (không biết đến bao giờ, có thể đến
suốt đời) đã tách tôi ra khỏi sức ép của xuất bản. Tôi bắt đầu nghĩ đến
những thay đổi triệt để hơn. Nhưng triệt để là thế nào tôi vẫn chưa hình
dung được!
Thời kỳ này tôi vẫn tiếp tục làm thơ nhưng bắt đầu chán thơ mình. Tôi viết
và xé bỏ rất nhiều. Bế tắc. Tôi quyết định nghỉ làm thơ một thời gian dài để
có điều kiện suy nghĩ.
Rất nhiều đêm mất ngủ. Có lẽ bệnh mất ngủ của tôi bắt đầu từ thời kỳ này.
Tôi luôn luôn tự hỏi: Chẳng lẽ mình thiếu nghị lực đến mức không tận dụng
được những bất hạnh gây ra cho gia đình, bạn bè, người quen, người không
quen cũng như cho chính bản thân mình để có đủ hơi sức tiến hành những cách
tân thơ từng ôm ấp từ hồi nhỏ? Chẳng lẽ mình đành phí bỏ nghiệm sinh một
cách vô ích và oan uổng? Làm thế nào để rũ bỏ được mặc cảm tội lỗi? Làm thế
nào để không bị rớt lại như một rơ-moóc già tại một ga xép rêu mốc?
Trần Dần (I)
hình như ngay từ đầu đã tìm ra con đường của mình và anh tiếp tục đi một
mạch. Tôi không có cái may mắn ấy.
Tôi phục xuống đọc sách. Trong cuộc đời chìm nổi của mình, những lúc nản
lòng tôi đều trở về với sách, hy vọng tìm ra một lời giải, một lý do để tin
trong việc giao lưu với những con người “tử tế” của chữ.
Rất may thời gian này Hội Việt kiều yêu nước tại Pháp gửi về tặng Thư viện
Khoa học Xã hội rất nhiều sách, đặc biệt những sách về chủ nghĩa cấu trúc,
về phong trào Thơ mới, Văn học mới, Phê bình mới… Những năm 50 là giai đoạn
hoạt động tư tưởng sôi nổi của giới trí thức Pháp, có ảnh hưởng lớn đến diện
mạo văn hóa nhân loại.
Tôi mê mải đọc sách 4 năm liền, ngày 8 giờ vàng ngọc thứ thiệt. Nhiều hôm
tôi đọc thông tầm từ 2 giờ chiều đến 9 giờ tối, giờ thư viện tắt đèn. Thấy
tôi về muộn phải vét cơm nguội ăn, con gái lớn tôi đã nói đùa: “Bố phải lòng
cô nào mà mê mệt thế!”
…Tôi vẫn mê mải đọc sách. Cùng vào thời điểm này, Trần
Dần ra thư viện để dịch thuê
Althusser và Trần Đức Thảo (II)
cũng “hội ngộ” để tìm tài liệu bổ sung cho những nghiên cứu của anh về giai
đoạn sơ khai của ý thức.
…Trong cuộc đời trầm luân một con người, đôi khi ta hạnh ngộ một vài câu nói
nó cưu mang mình như một chiếc phao cứu sinh. Suốt đời tôi hàm ơn ba câu
nói. Một của Trang Tử (**):
“Mọi người đều biết lợi ích của cái hữu
dụng, ít người biết lợi ích của cái vô dụng”. Hai của Lacan
(***): “Vô thức được cấu trúc như
một ngôn ngữ”. Ba của Mallarmé
(****): “Hãy
trả tính chủ động cho chữ”.
Tôi bắt đầu cuộc hành trình vô
dụng lần tìm vô
thức thông qua
việc giải
phóng ngôn ngữ.
Tôi xin phép được nhắc lại đây một đoạn viết khá dài trong tập Đời tôi và
tâm phân học của Freud (*****),
cũng sâu sắc như Lacan nhưng
lại dễ hiểu hơn: “Người ta thấy miền
tưởng tượng là một kho chứa được hình thành khi có sự chuyển đổi đau đớn từ
nguyên lý khoái lạc sang nguyên lý thực tế nhằm tạo ra một thế vật cho việc
thỏa mãn xung năng mà cuộc sống buộc con người phải từ bỏ. Người nghệ sĩ
giống như một người loạn thần kinh, anh ta tự rút lui vào thế giới tưởng
tượng ấy, tách khỏi hiện thực không làm anh ta thỏa mãn. Nhưng khác với
người loạn thần kinh, nghệ sĩ biết cách làm thế nào tìm lại được con đường
hiện thực vững chắc. Các tác phẩm của anh ta là sự thực hiện tưởng tượng
những khát vọng vô ích giống hệt những giấc mơ… Nhưng trái lại với những
giấc mơ phi-xã hội và nặng tính tự si, sáng tác của nghệ sĩ bộc lộ khả nãng
gợi mối đồng cảm ở người khác, đánh thức và thỏa mãn chính những khát vọng
vô thức ấy ở nơi họ.”
Freud còn viết:“Mọi đứa trẻ khi chơi
ứng xử như một nhà thơ với ý nghĩa nó tự tạo ra cho mình một thế giới hay
nói chính xác hơn, nó chuyển dịch những đồ vật
của thế giới nó đang sống sang một trật tự mới phù hợp. Nó coi trò chơi
của mình là rất nghiêm túc.” (L.Đ. nhấn mạnh.)
Nói một cách nôm na, người làm thơ thực hiện một trò chơi chữ nghiêm túc, sử
dụng những phép tu từ học (ám dụ, hoán dụ, lược tỉnh, ghép âm, nói lái nói
lối…) như một đứa trẻ chơi với những đồ vật chung quanh.
Thế nào là chơi nghiêm túc? Chơi nghiêm túc là chơi thật, chơi hết mình,
sống trò chơi như một nghiệm sinh thực thụ. Nghiêm
túc không mâu
thuẫn với trò chơi mà mâu thuẫn với chơi
đùa hay tài tử.
Từ một người chơi tài tử tôi
đã nỗ lực nghiêm túc để trở thành một người chơi
chuyên nghiệp.
Người làm thơ chơi những phép tu từ như một thứ bẫy
vô thức. Anh ta sinh sự với ngữ nghĩa và ngữ pháp để tạo ra
một sự
sinh mới cho thơ.
Người làm thơ rắp tâm biến ngôn
ngữ tiêu dùng thành
một thứ ngôn
ngữ trò chơi (hiểu
theo nghĩa mạnh) trong một trạng thái nửa tỉnh nửa mơ mà Roland Barthes gọi
là một sự chú
ý bồng bềnh (attention
flottante). Chính cái trò chơi hết mình này khiến Freud coi các nghệ sĩ như
một thứ trẻ con lớn tuổi có khả năng đánh thức bản năng trò chơi của độc
giả. “Mỗi người tự nhớ lại thời anh ta
sống thực với những ham muốn trẻ thơ trong đó ngôn ngữ làm ra thế giới, thời
gian là chiếc gậy của nàng tiên và tấm thảm bay, tóm lại thời của ma thuật”.
(J. Bellemin-Noel)
Tôi xin phép được mở ngoặc để nói thêm về từ chơi
chữ vì từ này do
bị sử dụng quá nhiều đã xuống cấp nghiêm trọng và thường bị nhiều người coi
như một trò kỹ xảo đơn thuần có tính lý trí. Người chơi chữ dễ dàng được coi
là một người thông minh. Như tôi đã trình bầy ở trên, chơi như vậy là chơi
đùa. Nhà nghệ sĩ cũng như đứa trẻ không chơi
đùa mà chơi
thật khiến trò
chơi chữ không còn là một trò chơi đơn thuần dựa trên óc thông minh của một
người tỉnh táo mà dựa trên toàn bộ trí năng cũng như cảm năng của một kẻ đam
mê bị thánh ốp
trong một cơn thượng đồng của chữ.
…Trong trò chơi phi ngựa của trẻ nhỏ, vật chơi chỉ là một chiếc gậy gỗ,
chính tưởng tượng, chính sự đam mê của đứa trẻ đã biến chiếc gậy gỗ thành
con ngựa. Cái thích thú nằm ở chỗ chiếc gậy gỗ không phải là con ngựa mà vẫn
là ngựa hay nói một cách dân dã hơn “nói dzậy mà không phải dzậy”. Cái ấy
bao giờ cũng có mặt và bao giờ cũng vắng mặt trong một trò ú tim vô tận.
…Không nên quên ham muốn về cơ bản khác với nhu cầu. Nhu cầu thì hữu hạn và
có thể thỏa mãn được, còn ham muốn thì vô hạn và luôn luôn “bất mãn”.
Tôi bắt đầu tự làm khó dễ mình bằng những bài tập chơi chữ sử dụng tất cả
những phép tu từ học có
thể theo tiếng gọi của những âm tiết. Viết xong đến đâu lại xé lại đốt đến
đó như một anh chàng lẩn thẩn. Tôi không muốn và cũng không dám cho ai xem.
Sự tự cô lập này thật hết sức nặng nề.
Trần Dần thỉnh
thoảng có hỏi tôi: “Sao lâu nay không thấy cậu làm thơ?” Tôi chỉ cười xòa
trả lời: “Vẫn làm nhưng không ra gì.” Đặng
Đình Hưng(III) nửa nạc nửa mỡ: “Ông anh “xêriơ” quá… Phải côn huyền cồn
như thằng em này thì thơ mới bốc được.” Không, tôi nhất quyết không sử dụng
bất cứ một thứ “đôpinh” nào.
Người ta có thể đạt tới sự xuất thần bằng nhiều cách, không nhất thiết phải
cậy nhờ những chất ảo sinh (hallucinogène) và kích hoạt. Một nhà thơ mà phải
nhờ đến chất “viagra” để thượng đồng thì yếu quá. Tôi đã nỗ lực rất nhiều để
trở thành một kẻ rồ chữ. Tôi xin được phép nhắc lại một lần nữa. Người làm
thơ hoạt động ở những vùng biên ngôn ngữ rất giống một người điên. Cái khác
biệt giữa họ nằm ở chỗ người điên thì vượt biên đi thẳng tới cõi vô thức
hoàn toàn của đêm tối mù mịt và ở lại đó, còn người làm thơ thì loạng choạng
bước một vài bước sang cõi vô thức thì ngừng lại và biết đằng sau quay, trở
về với cõi ngày của ý thức sau khi đã lượm dăm mảng đêm của vô thức để mở
rộng địa giới của cõi chữ. Làm thơ không chỉ đòi hỏi sự
buông lỏng mà còn
một cảnh
giới thượng thừa.
Không một nhà thơ nào lại không muốn có người đọc mình bây
giờ và ở
đây. Lời tuyên bố hoàn toàn sáng tác cho tương lai chỉ biểu
hiện của một thái độ hờn dỗi vạn bất đắc dĩ.
Tháp ngà là một hình ảnh không lấy gì làm sáng giá của trường phái thơ lãng
mạn. Nhà thơ không mong muốn sự cô đơn, nhà thơ chỉ chấp nhận nó. Không tháp
ngà nào ngăn cản được những tiếng vang vọng của sự sống cũng như của những
bận tâm nhân loại của người nghệ sĩ.
Nhà thơ càng cô đơn càng cần san sẻ. Cần nhưng sợ. Đem những câu thơ đến bản
thân mình cũng phải cố gắng mới làm quen được tung ra đời liệu có được thiên
hạ thông cảm không? Cái tình trạng bồn chồn ấy thật đáng sợ. Và nó kéo dài
trong nhiều năm.
Thương anh nỗi trường kỳ nợ sợ / Một
mình huýt gió nghĩa trang đêm
Những năm đó tôi rất thân với hai câu thơ cực hoang vắng của Mạnh
Hạo Nhiên (******):
Bất tài minh chủ khí / Đa
bệnh cố nhân sơ
Vì bất tài nên minh
chủ (chứ không
phải vua
ngu) không dùng, nhiều bệnh nên cố nhân (chứ không phải kẻ sơ
giao) ít lui tới. Thái
độ tri thiên mệnh và bình
thản của họ Mạnh đã nâng đỡ tôi không ít trong dằng dặc trường kỳ bất hạnh.
Sau khi làm những bài tập tự do ghép chữ một thời gian, tôi bắt đầu tập
“chơi chữ” theo những đề tài nhất định hay nói một cách giản dị hơn, tôi bắt
đầu tập sáng tác.
Tôi đã mất ba tháng để viết xong bài “Ông phó cả ngựa” lần
thứ nhất và ba tháng nữa để sửa đi sửa lại không biết bao nhiêu lần, nhiều
câu chữa mãi có khi lại trở về câu lần đầu, đi chông chênh trong một vùng
bất định đầy sương mù, luôn đối diện với một câu hỏi da diết… đâu là điểm tự
do xa nhất chữ có thể đạt tới, đâu là cực hạn nhất thiết không được bước
qua.
Tôi vốn không phải là một nhà thơ sướt mướt. Trong những năm tháng bất hạnh
của nghiệm sinh tôi đã tu dưỡng một nụ cười bất chấp, một “chủ nghĩa makênô”
chính hiệu. Người yêu thì gọi tôi là “ông Di Lặc”, kẻ ghét thì là “tên Nhân
Văn ngoan cố”.
Không hiểu sao khi đọc lại bài thơ “Ông phó cả ngựa” còn nóng hổi những chữ
mới ra lò, nước mắt tôi cứ ứa ra không cầm lại được. Tôi hiểu rằng mình đã
được cứu rỗi.
…(Khi tập Bóng chữ ra
mắt). Phần lớn những người bạn “chính trị” của tôi cũng quở trách. Đ.P., một
cựu tù Sơn La tỏ ra khá quyết liệt: "Ông im tiếng bao nhiêu lâu, giờ tái
xuất giang hồ, anh em chờ đợi một tuyên ngôn của ông về dân chủ, tự do, ông
lại cho in mấy bài thơ tình vớ vẩn”. Tôi cười trả lời: "Có tuyên ngôn đấy
chứ, tuyên ngôn về quyền dân chủ của chữ”. Đ.P.
cau mặt: “Ông thì lúc nào cũng đùa được”.
Tôi trộm nghĩ rằng hành động yêu nước nghiêm túc nhất của một công dân với
tư cách một người làm thơ là cúc cung tận tuỵ bảo vệ và mở mang bờ cõi chữ
của dân tộc mình.
Chỉ có một người (lẽ dĩ nhiên là theo chỗ tôi biết) tin là tôi nói thật: Trần
Đĩnh (IV).
…Thế là ít nhất đã có hai người tương đối hiểu thơ tôi, bản thân tôi và Trần
Đĩnh. Tôi xin nhấn mạnh:
thêm một người không đơn thuần là một thay đổi về số lượng, mà quan trọng
hơn hết, đó là một thay đổi về chất lượng. Tôi đã thoát khỏi vòng cô đơn.
Một người là số ít nhưng hai người là khởi điểm của số nhiều. Trần Đĩnh đã giúp
đỡ tôi không ít
trong quá trình Bóng chữ qua những nhận xét vừa tinh tế vừa bốc đồng của
anh.
Năm 1993, Hội Nhà văn chủ trương xuất bản cho những anh em vừa được “phục
hồi” mỗi người một tập thơ. Hoàng
Cầm (V) cho in tập Về
Kinh Bắc, tập thơ đã đưa anh vào vòng lao lý. Phùng
Quán (VI) cho in Thơ
Phùng Quán. Trần
Dần, tập Cổng tỉnh,
một tiểu thuyết thơ và tôi cho in tập Bóng
chữ. Trong mấy tập thơ trên, số phận tập Bóng
chữ có phần
long đong hơn cả.
…Không biết xuất phát từ đâu dư luận dứt khoát rằng thơ tôi khó hiểu. Có
người vừa mở tập Bóng
chữ lướt qua đã gập
sách lại và kêu ca rằng thơ tôi “hũ nút”. Trong thơ, nạn
đọc bằng tai chứ không bằng mắt cũng
khá phổ biến.
Khi ta “mê” một người con gái nhiều khi ta cũng không hiểu tại sao. Các nhà
thơ lãng mạn gọi đó là “tiếng sét ái tình”. Chỉ sau khi hết choáng váng ta
mới có điều kiện sử dụng lý tính để “hiểu” và hiểu mãi
vẫn chưa hiểu
hết. Không phải
bao giờ cũng hiểu mới cảm được”.
---
Chú thích cho
bài tiểu luận Đường chữ:
(*) Mayakovsky (1893-1930):
nhà thơ, nhà viết kịch Nga. Những sáng tác đầu tiên mang tính chất dân chủ.
Các tác phẩm của ông gắn liền với con đường Cách mạng vô sản. Với nước Nga
Xô-viết.. Đó là "Hành khúc", "Những cửa sổ Rôxta", thơ "Tôi yêu", "Về điều
này", trường ca "Lê nin", trường ca "Tốt lắm"; tập văn xuôi "Tôi khám phá ra
nước Mỹ", kịch "Con rệp", và tập luận văn "Làm thơ như thế nào" v.v... Thơ
của Maia nổi tiếng thế giới và có ảnh hưởng đến văn học thế giới xã hội chủ
nghĩa; nhiều đề tài và hình thức mới; một sự tổng hợp thiên tài của nghệ
thuật và nhu cầu phục vụ xã hội.
(**) Trang Tử (365-290
trước CN) là một triết gia và tác gia Đạo giáo. Tên thật của ông là Trang
Chu và tác phẩm của ông sau
đều được gọi là Trang Tử. Ông còn có tên là Mông
Lại , Mông
Trang hay Mông
Tẩu . Ông sống vào thời Chiến
Quốc, thời kỳ đỉnh cao của các tư tưởng triết học Trung Hoa với Bách Gia Chư
Tử. Chí khí của bậc hiền triết Trang Tử cũng giống như căn bản nền tảng tư
tưởng Đạo gia: ẩn dật mà khoáng đạt, quay trở về cuộc sống hòa hợp với tự
nhiên, không muốn tham dự vào tranh quyền đoạt lợi, xa lánh những hệ lụy
cuộc đời. Gần như đối lập với đạo Khổng mang bản thể trần tục, ưa thực tế,
trọng thực nghiệm và đặc biệt tôn trọng chủ nghĩa nhân văn, Trang Tử kế tiếp
truyền thống tư tưởng của Lão Tử, phát triển thành một hệ phái mà sau này
người ta thường gọi một cách vắn tắt là Lão-Trang. Khác với Lão Tử cuối cùng
vì chán ngán xã hội Trung Hoa đương thời đã vượt cửa ải Hàm Cốc, mất tích về
phương Tây; với Trang Tử, người đời thường nhắc đến "Trang Chu mộng hồ điệp"
như một huyền thoại. Trang Tử nổi tiếng với bộ sách NamHoa
chân kinh.
Theo Từ điển Thành ngữ Trung
Quốc thì Nam Hoa là tên một
hòn núi ở Tào Châu thuộc nước Tống thời xưa. Tương truyền rằng, khi Trang Tử
đến ở ẩn nơi chân núi Nam Hoa, ông đem hết tinh hoa của Đạo giáo của Lão Tử
viết thành bộ sách, lấy tên núi Nam Hoa mà đặt, gọi là Nam
Hoa kinh, đời sau người
ta gọi là "sách Trang Tử". Văn chương trong Nam
Hoa kinh rất có tiết tấu,
nhiều câu dùng phép biền ngẫu, lời văn luôn luôn bóng bẩy, trôi chảy, ảnh
hưởng rất lớn đến các thi nhân đời sau như Kê Khang, Nguyễn Tịch, Sơn
Đào,... và ngay cả đời nhà Đường như Lý Bạch, đời nhà Tống như Tô Đông Pha. Nam
Hoa kinh, theo sách Hán
thư Nghệ văn chí, gồm 55 thiên, nhưng ngày nay còn được 33 thiên. Cũng
theo truyền thuyết là do Quách Tượng san định và sau này sắp xếp đặt tên
Thiên Chương. Không ai biết được rằng quá trình sắp xếp, san định ấy đã làm
tổn thất 19 chương hay do đã thất lạc từ trước. Câu hỏi này thật khó giải
đáp vì bản hiện nay được hoàn chỉnh vào đời nhà Tấn (thế kỷ thứ 3), cách xa
Trang đà hơn 500 năm. Các bản dịch Nam Hoa
kinh tương đối phổ biến ở
Việt Nam hiện
nay là của Nhượng Tống, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê và Nguyễn Tôn Nhan. |
|
Đỗ Ngọc Thạch |
|
Ngày đăng: 19.11.2010
[ Trở lại ] [
Tiếp ] |
|
|
|
Vĩnh biệt nhà thơ Lê Đạt: Bóng chữ động trần ai...
0
Giờ ông ấy đi rồi, tôi vừa buồn, vừa chán. Đáng nhẽ tôi phải đi trước chứ. Tôi
cứ hết nằm lại ngồi gần 5 năm nay, đầu óc cứ đảo lộn chuyện cuộc đời. Hiện giờ
tôi đang trong “một cơn hấp hối dài” chứ không phải là sống nữa - Hoàng Cầm.
Sáng nay (21/4), cô con dâu út thông báo tin ông Lê Đạt mất. Tôi không thấy đột
ngột chuyện này. Vì tất cả chúng tôi đều già rồi. Nhưng tôi cứ nghĩ mình phải đi
trước ông ấy. Tôi nằm liệt gần 5 năm, lại hơn ông Lê Đạt mấy tuổi nữa… Vậy mà
đùng cái ông ấy đi, tiếc lắm.
Nhưng tôi vẫn vững tin vào tài năng của anh em, những gì chúng tôi viết đều có
cái để lại cho đời sau. Thật ra, chúng tôi gồm tôi, ông Trần Dần, Lê Đạt, Văn
Cao, Đặng Đình Hưng và cậu em út Phùng Quán đã sống với nhau từ thời hoạn nạn
nghèo túng. lúc nghèo khổ khó khăn chúng tôi thân nhau hơn là sau khi phục hồi.
Tôi còn nhớ thời gian “bị đánh”, trên đánh, duới đánh, anh em đánh… Anh em chúng
tôi viết có hay đến đâu cũng không được báo nào chấp nhận đăng. Vì mọi người đều
cho rằng những người từng làm tờ “Nhân văn giai phẩm” là cái gì đó tội lỗi. Hồi
đấy sống khổ cực vậy, nhưng cả mấy chúng tôi lại viết hăng hơn.
|
Nhà thơ Lê Đạt tên khai sinh là Đào Công Đạt, sinh ngày 10/09/1929 tại Yên
Bái. Nguyên quán xã Á Lữ (Bắc Giang). Ông đột ngột ra đi lúc 3h 15 ngày
21/04/2008 tại nhà riêng 190 Phó Đức Chính sau một chuyến đi dài thăm lại
Tây Nguyên.
Tác phẩm chính: Bài thơ trên
ghế đá (1955), Bóng
chữ, Hèn đại nhân(1994), Ngó
lời (1997), Mi
là người bình thường, U75 từ tình (2007),
Lễ viếng nhà thơ Lê Đạt từ 7h 30 – 9h 30 ngày 25/04/2008 tại Nhà tang lễ
Quốc Phòng, số 5 Lê Thánh Tông. |
Cuộc sống chúng tôi vất vả lắm, ông Lê Đạt đi dịch sách, có bà cụ buôn bán giỏi
lắm nên chu cấp cho cũng đỡ. Còn tôi và ông Trần Dần khổ hơn. Ông Trần Dần phải
đi tô ảnh màu, người ta mang đến từng thúng ảnh, ông ấy cứ ngồi cặm cụi tô.
Thỉnh thoảng, tôi cũng giới thiệu được sách cho ông Trần Dần dịch, tiền chẳng
được bao nhiêu nhưng cũng là môt cách cải thiện. Có lần ông Trần Dần vừa tô xong
thúng ảnh được vài chục bạc. Thấy tôi với ông Lê Đạt xuống chơi, ông ấy ra chỗ
quen quen làm cút rượu mấy anh em lại ngồi nhâm nhi với nhau.
Anh em chúng tôi lúc bấy giờ hay gặp nhau lắm, cứ chiều đi bộ xung quanh Hồ, rồi
ngồi ghế đá nói chuyện. Có bản thảo đưa nhau xem, góp ý kiến nhiều lắm, nhưng
chả bao giờ khen nhau cả. Phần lớn là chê. Ông Lê Đạt xem thơ tôi xong có nói:
“Bây giờ mà mày làm thơ cũ quá, không mới. Mày phải đổi thế nào đi chứ, thế này
thì cũ quá. Sao mày vẫn sống với cái cũ…”.
Tôi ghi nhận và cũng về xem lại, rồi sửa, nhưng tất nhiên vẫn không thoát khỏi
cái cũ được. Hơn nữa, đó là thơ của mình rồi, chứ mới quá lại thành ra thơ ông …
Lê Đạt. Trong mấy anh em chơi với nhau, chúng tôi coi Phùng Quán là trẻ con, con
nít nên rất gượng nhẹ, còn lại mấy đứa đối xử với nhau rất bình đẳng.
Ông Lê Đạt đúng là phu chữ thật. Ông ấy rất kỹ tính và cẩn thận từng câu chữ
trong thơ. Tôi đã từng đọc bản thảo thơ ông ấy, tôi biết có nhiều chữ ông ấy
phải vật vã mất mấy ngày, thậm chí mất ăn mất ngủ. Thơ Lê Đạt có tính nhạc, đọc
lên rất dễ nhớ. Như câu: “Chiều Âu Lâu bóng chữ động chân cầu” lúc đó
vừa đọc xong là tôi nhớ ngay. Còn giờ bảo đọc hết cả bài thì chịu, không nhớ
được.
Lê Đạt bắt đầu nổi tiếng hơn nhờ bài thơ in trên Nhân văn giai phẩm có tên “Nhân
câu chuyện mấy người tự tử”, sau bài này, danh tiếng Lê Đạt ai cũng biết. Nếu
nói về Lê Đạt thì ông ấy là người rất phóng khoáng, hay gọi là phóng túng cũng
được. Nhưng ông ấy không yêu nhiều như tôi, ông ấy chỉ có bà Thúy Thúy thôi.
Cũng có thể, ông ấy không phải lo lắng về cuộc sống vật chất nhiều nên có cái
chất phóng túng ấy.
Lê Đạt nói mình là “phu chữ” cũng đúng, vì khi viết ra một chữ gì mới, ông ấy
chọn lọc và suy nghĩ ghê lắm. Tôi đọc thơ ông ấy cũng thấy được chỗ nào ông ấy
làm công phu, cân nhắc rồi dằn vặt chữ nọ chữ kia đến mệt…
Theo Hoàng Cầm (Mai
Sen ghi)
Vietnamnet
phôi pha và vĩnh cửu.
|
Trang nhất > An
Ninh Thế Giới Cuối Tháng > Nhân
vật |
|
|
|
Nhà thơ Lê
Đạt: “Chim gõ mõ xưa chưa giũ hết lụy tình”
2:05 PM, 02/03/2012
|
|
Có lần nhà thơ Lê Đạt trò chuyện, theo bà cô ruột, người đã nuôi ông từ
tấm bé khẳng định, ông sinh năm 1928, tức tuổi con Rồng, chứ không phải
năm 1929 như trong khai sinh, tuổi con Rắn. Ông tự điều hoà và hóm hỉnh
nhận tuổi mình gồm cả hai là Rồng và Rắn. Rồi ông nghĩ có lẽ vì vậy mà ông
thích làm thơ từ khi còn nhỏ. Và, rồi ông nhớ lại mình đã sớm ấp ủ mộng
cách tân thơ, cho dù chưa biết sẽ làm như thế nào và bắt đầu từ đâu.
Sau này, ông nhận mình đã
chịu ảnh hưởng từ thơ Mayakovsky, những áng thơ quảng trường mạnh mẽ, ẩn
chứa tính công dân rất dữ dội có tác dụng trực tiếp vào đời sống cộng đồng
với những ngôn từ có sức khám phá lạ kỳ. Quả nhiên sau hơn nửa thế kỷ âm
thầm làm phu chữ, ông trở thành một kỳ nhân trên cánh đồng thơ Việt…
Tôi chợt nhớ buổi sáng ấy,
vào Ngày Thơ Việt Nam (21/2/2008,
tức ngày rằm tháng giêng năm Mậu Tý), nghĩa là đúng hai tháng trước khi từ
giã dương thế (21/4/2008), nhà thơ Lê Đạt đã có mặt để gặp gỡ bạn thơ
nhiều thế hệ. Dường như linh tính báo trước, đây có thể là lần họp mặt
cuối cùng của ông trong ngày Hội Thơ mùa xuân. Tuy sức khoẻ đã yếu nhưng
ông vẫn cứ rổn rảng với tiếng cười. Và dù đôi mắt đã ẩn dấu nét trầm buồn
của tuổi 80, nhưng với thơ, ông luôn luôn trẻ trung. Trẻ về sức sáng tạo,
trẻ vì cảm xúc thơ nặng trĩu tình đời. Sau hai năm, giờ đây mở lại tập thơ
mới nhất, U75 từ tình,
tôi đoán chắc chẳng mấy ai có thể quên những câu thơ thật sự kỳ ảo trong
bài thơ Nụ xuân của
ông:
“Nụ xuân chớp đông
Hoa xuân chớp hồng
Chũm cau tứ thì chúm chím
Ú ớ mơ ngần
một giấc chim xuân”.
Ấy vậy mà, từ lâu khi sinh
thời ông vẫn chỉ nhận là phu chữ và luôn luôn nói rằng chưa bao giờ nhận
mình là thi sĩ. Có thể nói, ông là một hiện tượng kỳ lạ trong làng thơ
Việt Nam, bởi lẽ trong ngàn trùng dâu bể một đời người, ông luôn tự vượt
lên và chỉ nghĩ đến cái sự tân thời cho thơ ca. Mặc dù số lượng sách của
ông không nhiều, nhưng có lẽ bắt đầu từ tập thơ Bóng chữ (1994), ông đã
phát hiện ra mình và tự nguyện lao động khổ sai vì sứ mệnh lập từ. Một
quan niệm mới đã được hình thành, lấp lánh từ những năm tháng xa xưa, giờ
đã bật lên thành gien trội:
- Thơ tôi lấy chữ làm
chính.
Một lần gặp ông ở Hội Nhà
văn Hà Nội, 19 Hàng Buồm, tôi có dịp trao đổi với ông về tập Bóng chữ và
tỏ lời ngưỡng mộ, thì ông cười, vẫn một giọng cười sảng khoái, rồi nói:
- Thế mà có nhiều người
chê đấy! Nhưng ông ạ, con đường tôi đã chọn đi và tôi tin.
Đó là con đường nào vậy?
Ông khẳng định:
- Thơ người ta lập ý, tôi
lập từ, thế thôi!
Rồi ông ví von rất thú vị
rằng, mỗi người đều có một dạng vân tay khác nhau, vậy mỗi nhà thơ thứ
thiệt cũng cần có một dạng “vân chữ”, không thể trộn lẫn. Lại có lần ông
bày tỏ:
- Tôi đã nỗ lực rất nhiều
để trở thành một kẻ rồ chữ. Người làm thơ hoạt động ở những vùng biên ngôn
ngữ rất giống một người điên. Cái khác biệt giữa họ nằm ở chỗ, người điên
thì vượt biên đi thẳng tới cõi vô thức hoàn toàn của đêm tối mù mịt và ở
lại đó; còn người làm thơ thì loạng choạng bước một vài bước sang cõi vô
thức thì ngừng lại và biết đằng sau quay, trở về cõi ngày của ý thức, sau
khi đã lượm dăm mảng đêm của vô thức để mở rộng địa giới của cõi chữ.
Chính vì lẽ đó mà ông làm
thơ rất nặng nhọc đúng với nghĩa một hình ảnh cày ải trên cánh đồng thơ
như một “phu chữ”, với đúng nghĩa của nó. Có những bài thơ ông phải mất
vài ba tháng trời để hoàn chỉnh chỉ vì nhọc lòng với từ ngữ. Ông đã từng
khóc và run rẩy vì cảm xúc với những chữ mới ra lò mà ông cho là thành
công.
Rồi lại có lần ông nhấn
mạnh với đồng nghiệp về trách nhiệm của nhà thơ với câu chữ rằng, hành
động yêu nước nghiêm túc nhất của một công dân với tư cách một người làm
thơ là cúc cung tận tụy bảo vệ và mở mang bờ cõi chữ của dân tộc mình.
Nghĩ tưởng như thật cứng nhắc, nhưng ngẫm lại thấy sâu sắc vô cùng. Nếu ai
đọc truyện ngắn Lá thư
tuyệt mệnh của ông
chắc không thể quên đoạn kết có viết: “Phàm mọi việc trên đời nhất thiết
không nên vội, đặc biệt khi làm chữ và khi sắp tự tử”. Vậy là ông sống,
chết trong hơi thở của chữ. Việc tìm ra một chữ mới đối với ông như công
việc của thợ luyện vàng mười vậy. Và ông đã làm việc đúng như ông nghĩ,
chẳng ai có thể quên được những câu thơ độc đáo với chữ mới lạ của ông,
như:
“Tuổi lú lẫn, ngược
nhầm ga trẻ dại
Hay ngây ngơ không biết lối về già
Tha thẩn chữ ngã ba…”.
Hay như: “Mộng anh
hường - tim môi em bói đỏ - Giàn trầu già - khua - những át cơ rơi”.
(Trích trong U75 từ
tình).
Hoặc thật thú vị với những
khổ thơ đặc sắc:
“Đưa anh lần những
vùng quên tuổi dại
Thuở trăng sim soi bãi ú tim khờ”. (Ngó
lời).
Đó là sự khác nhau. Hiện
đại là vậy. Lại nhớ trong ngày thơ ấy, giọng đọc thơ của ông đã khàn đi
đôi chút nhưng vẫn dầy ấm và nồng nàn tình cảm toát lên từ con chữ:
“Tóc trắng tầm xanh
qua cầu với gió
Đùi bãi ngô non
ngo ngó sông đầy”. (Quan
họ).
Sự chơi chữ của ông đã có
nhiều ảnh hưởng với các tác giả thơ trẻ sau này. Họ cũng dấn thân tập làm
phu chữ như ông và không phải ai cũng thành công. Tuy vậy ông rất khuyến
khích các nhà thơ trẻ và đã có lần ông khẳng định, khi người trẻ mới bước
vào đời, họ có quyền ồn ào, sau đó lắng lại, như vậy may ra mới có cái gì
mới. Ông còn cho rằng cần phải chấp nhận cái nhí nhố của giới trẻ, và ông
nghĩ văn chương trẻ náo động, tức là họ không bằng lòng với cái cũ. Họ tìm
cách chống lại cái cũ, và có những màu sắc khác nhau là đương nhiên. Và
ông đã tâm sự về nghề nghiệp lao động thơ với các nhà thơ trẻ, coi trọng
cảm hứng, nhưng cảm hứng chỉ là sự khởi đầu, sau đó là mồ hôi và sự vật
lộn với từng con chữ. Đúng với sự ví von, thơ là một lạng cảm xúc cộng với
một tạ mồ hôi cho công việc khám phá câu chữ mới lạ.
Ông nói với các nhà thơ
trẻ với sự trải nghiệm phi thường của mình với thơ ca. Âm thầm khổ luyện
trong kho tàng ngôn ngữ của ông cha, tạo nên một cốt cách văn chương; mang
dấu ấn riêng, dấu Vân chữ dị biệt. Có thể nói, Bóng
chữ đã tạo nên một
phong cách thơ mới, hoà sắc trong nền thơ ca ViệtNam khi
bước vào thế kỷ XXI.
Đáng chú ý có lần khi đi
bách bộ, vào một buổi sáng, quanh Hồ Gươm, tôi gặp ông đang có nét trầm tư
bên gốc cây lộc vừng cổ. Nhìn tôi như lạ như quen, ông ngậm ngùi nói:
- Đúng là ký ức bao giờ
cũng đẹp, ông nhỉ?
Ấy thế rồi loanh quanh lại
chuyện thơ, ông đọc ngay vài câu đúng với nghĩa cuồng say của một phu chữ:
“Đời tốc hành
một ga xanh sót lại
Một góc tuổi mải tầu
thơ dại mãi
Tìm nhà quên mất số lớn khôn”. (Kết
luận).
Nhưng kỳ thực nhìn vào
khoé mắt ông, tôi lại thấy như một ký ức, như ông nói bao giờ cũng đẹp,
chỉ vì những ký ức ấy ẩn chứa nỗi lòng, mà ông đã đeo đuổi nó bằng cái
Bóng chữ, cái hàm nghĩa, nói rõ hơn là cái miền đa nghĩa, đa chiều lung
linh gợi cảm. Chữ của ông gọi chữ, gợi hình làm người đọc xao xuyến chính
vì cái “bóng” của nó:
“Em về trắng đầy cong
khung nhớ
Mưa mấy mùa
mây mấy độ thu”. (Bóng
chữ).
Sau này khi chuẩn bị ra
tập thơ U75 từ tình,
một tập thơ tình dày dặn, ông vẫn tâm sự với bạn thơ rằng:
- Tình đấy nhưng chữ làm
khổ tôi.
Nghĩa là nhiều thập kỷ
trôi qua, ông chỉ đau đáu làm mới chữ. Có những lúc ông tự coi mình là kẻ
làm khổ chữ, bởi lẽ cái sự nâng lên đặt xuống, cái sự trân trọng con chữ
đã làm ông mất ngủ. Thật may sao cái U75 từ tình ấy lại có những cái mới
để đọc về những cái muôn đời cũ, đó là tình yêu ở cái lão phu chữ này:
“Anh đến mùa thu nhà
em
Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ
Mà cho đấy rửa lông mày
Nông nỗi heo may từ đó”. (Thu
nhà em).
Đã có ai đó kêu lên rằng
thơ ông cầu kỳ, bí hiểm, nhưng không thể phủ định được một đời thơ của ông
đầy gian lao, nhằm hướng tới một thiên đường thơ ca giàu nhạc tính trong
con chữ như ông. Bởi lẽ mục đích cuối cùng của thơ, ông bộc lộ:
- Một nền thơ hay bao giờ
cũng là hạnh phúc và cơ may của một dân tộc.
Cuối cùng cái công làm phu
chữ ấy đã làm nên một chân dung thơ Lê Đạt sống động, đầy biến ảo vì tính
giải phóng của con chữ. Đồng thời lão phu chữ Lê Đạt là một sự nghiệp thơ
xứng đáng với Giải thưởng Nhà nước về VHNT (2007) cho các tập thơ và
truyện ngắn Bóng chữ,
Ngó lời, Hèn đại nhân. Từ ngày là hội viên sáng lập Hội Nhà văn
Việt Nam (1957),
ông đã có hơn nửa thế kỷ sáng tạo một phong cách thơ độc đáo, tạo dựng một
thứ ánh sáng khác lạ. Thực ra làm phu chữ như ông lại luôn luôn bám chặt
từ nguồn cảm xúc của trái tim. Ông thường cho rằng nghệ thuật căn bản đều
là phát tâm, đúng với nghĩa mà ông cha ta đã từng nói “Phật tại tâm”. Cho
dù mổ xẻ từ ngữ, hoặc cân đong đo đếm từng chữ, nhưng bao giờ ông cũng tìm
“mã” giải phóng năng lượng cho ngôn ngữ Việt giàu có hơn. Chẳng những vậy
mà ông đã quan niệm rạch ròi:
- Chữ bầu nên nhà thơ!
Đúng vậy, chữ đã tôn vinh
ông, nhà thơ Lê Đạt
|
|
Vương
Tâm |
Lê Đạt làm thơ
mà hoá ra làm chữ!

- “Bóng chữ ngả dài trên đường chữ” là
chủ đề buổi toạ đàm về đời và thơ Lê Đạt nhân ngày giỗ lần thứ ba của ông, tổ
chức chiều 31.3 tại trung tâm Văn hoá Pháp tại Hà Nội. Không ít người coi Lê Đạt
là một “kỳ nhân” trên cánh đồng thơ Việt Nam hiện đại, bởi tinh thần đổi mới
quyết liệt và sức sáng tạo bền bỉ của ông. Đó cũng là lý do khiến thơ Lê Đạt đem
đến nguồn cảm hứng dồi dào cho các nhà phê bình văn học, trong đó có Phạm Xuân
Nguyên.
Góp mặt với tư cách diễn giả tại
toạ đàm thơ Lê Đạt, ông muốn chia sẻ điều gì với những người yêu thơ Lê Đạt và
cả những người còn đang tò mò về nhà thơ tự nhận là “phu chữ” này?
Tôi muốn độc giả nhận biết rõ hơn chân
dung Lê Đạt, một người cách tân thơ, quyết liệt với thơ, và đóng góp mạnh mẽ cho
thơ Việt Nam hiện đại, cho dù có những khoảng lặng bất đắc dĩ trong cuộc đời
sáng tạo.
Đường thơ của Lê Đạt có ba dấu mốc
quan trọng: Ông bình vôi, Bóng chữ, U75 từ tình. Ở vị trí một độc giả và một nhà
phê bình văn học, giai đoạn nào đem đến cho ông cảm hứng khai phá hơn cả?
Ở góc độ người đọc và cả một nhà phê
bình, tôi thích thơ Lê Đạt giai đoạn sau. Giai đoạn trước, ông vẫn nương theo
lối viết truyền thống, tuy đã bắt đầu có sự tìm tòi. Thời điểm trở lại văn đàn,
ông mới chính thức bứt phá mạnh mẽ. Có lẽ, điều kiện xã hội, điều kiện văn hoá
cộng thêm nội lực đã đưa Lê Đạt đến độ “chín” để bứt phá và tạo được dấu
ấn.
Thơ Lê Đạt khó hiểu, khó bóc tách, tạo
nên một dạng “vân chữ” riêng. Cái khó nhất khi giải mã vân chữ Lê Đạt là
gì?
Đó là ông hay làm nhoè mờ nghĩa của
chữ. Đọc con chữ mà phân vân không biết nghĩa là gì, ý là gì. Ông đặc biệt thích
mở rộng trường kết hợp của chữ, chẳng hạn, một chữ có thể kết hợp với chữ đứng
trước hoặc phía sau nó, tạo nên nhiều cách đọc, nhiều ý nghĩa khác cho chữ, cho
cả câu thơ. Ông tự nhận là “phu chữ” cũng chẳng sai, vì nói chính xác thì
ông làm thơ mà hoá ra làm chữ. Người như ông không nhiều. Các nhà thơ bây giờ
ngại lao động trên cánh đồng chữ.
Nhìn vào khả năng sáng tác và làm
mới thơ của Lê Đạt, không ai không nể phục. Sự trường sức ấy, theo ông, là “trời
cho” hay nhờ khổ luyện?
Theo tôi, nội lực của Lê Đạt bắt nguồn
từ nội lực văn hoá. Ông đọc rất nhiều và luôn cố gắng cập nhật thông tin về thế
giới bên ngoài, ngay cả trong hoàn cảnh chiến tranh hay trong thời kỳ chúng ta
chưa “mở cửa”. Phải nói là ông có một sức đọc, sức “tiêu hoá” đáng
nể. Nội lực ấy cộng với quyết tâm đổi mới thơ đã tạo nên phản ứng hoá học, tạo
nên sức sáng tạo của Lê Đạt như chúng ta thấy. Đó là bài học lớn với các nhà thơ
trẻ, những người đang muốn đổi mới thơ.
HƯƠNG LAN
THỰC HIỆN
Toạ đàm về đời và thơ Lê Đạt
(ảnh) do công ty sách Bách Việt và trung tâm Văn hoá Pháp tại Hà Nội tổ chức.
Nhà thơ, dịch giả Dương Tường là bạn văn chương cùng khuynh hướng với Lê Đạt,
nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, Đỗ Lai Thuý, ông Trần Đĩnh – bạn vong niên, nghệ
sĩ sân khấu Ngọc Thụ – người em thân thiết và Đào Phương Liên – con út của ông
sẽ có mặt trong chương trình.
N.V

(Nguyên Đầu Bạc)
Đọc Lê Đạt ở bất cứ cái gì
ông viết ra nói ra, tôi luôn bị ấn tượng bởi cách nói, cũng tức là phản ánh cách
tư duy của ông. Ông không ngừng sục sạo các ngõ ngách của từ và tiếng, của chữ
và lời, không ngại làm mới và không sợ bị coi là khác lạ.
Nhà phê bình Phạm
Xuân Nguyên
Phân tích bài thơ
Bóng chữ
của
Lê Đạt
(bài làm Mai Thảo Yên)
Nhà thơ
là người
điều
khiển
con chữ,
dẫn
dắt
con chữ
tới
ý thơ,
tứ
thơ.
Lê Đạt
có lẽ
là một
dạng
khác thường.
Thơ
ông, hay chính bản
thân ông, bị
chi phối
mạnh
bởi
con chữ.
Ông và chữ
nghĩa điều
khiển
lẫn
nhau, hoà trộn
và thấu
hiểu
lẫn
nhau mà biến
hoá thành thơ.
Chính bởi
sự
niêm phong và cô đọng
chữ
nghĩa này, thơ
ông hiển
nhiên “khó và tối”,
và kén cả
người
đọc. Và
ngay cả
những
ai yêu thơ
Lê Đạt,
cũng không thể
khám phá hết
cái hay của
trường
phái thơ
“tạo
sinh” này, chỉ
trong một
chốc
lát. Mỗi
lần
tiếp
nhận
thơ
ông, độc
giả
lại
tìm thấy
“một
chập
chờn
hư
thực
mới”
từ
cùng một
chất
liệu
liêu trai bắt
nguồn
từ
những
ảo
ảnh
và sự
vô thường
của
cuộc
đời.
Vì vậy,
ta hoàn toàn có thể
nói, những
tác phẩm
của
Lê Đạt,
tuy có thể
không nhiều
về
số
lượng,
nhưng
đều
là “tác phẩm
của
một
đời”.
“Bóng Chữ”,
với
tôi, là một
bài thơ
như
thế.
Khi tiếp
nhận
bài thơ,
tôi đã luôn tự
hỏi,
thực
ra “Bóng chữ”
là gì. Sau cùng, tôi tin rằng
“Bóng” là sự
si mê tới
mức
ám ảnh
một
nàng thơ.
Nhưng
vì chỉ
là “Bóng”, nàng thơ
ấy
ôm trọn
năm mươi
mốt
tiếng
thơ
nhưng
vẫn
không rõ hình hài, thần
sắc
– mà cụ
thể,
Lê Đạt
đã lấy
màu trắng
để
che lấp
sự
nhợt
nhạt
đó. Còn “Chữ”,
có lẽ
là sự
“cụ
thể”
tất
cả
những
tiếng
thơ
trong bài, để
lại
cho bài thơ
một
chất
liệu
khá “liêu trai”, nửa
hư
nửa
thực,
vừa
như
có thể
chạm
vào, nhưng
trong giây phút lại
tan biến.
Có lẽ
là nửa
vời.
Lê Đạt
vẽ
tình yêu bằng
một
thứ
sắc
thái “phi sắc
thái”, để
lại
những
câu hỏi
vô cùng. Tôi lấp
đầy
những
câu hỏi
bằng
sự
thấu
cảm
của
riêng tôi, có lẽ
là chệch
đường
vì chẳng
ai có thể
lấy
một
chút “ngơ
ngác” của
tuổi
trẻ
để
lí giải
những
hư
ảnh
của
người
đã chiêm nghiệm
nhiều.
Tôi viết
về
“Bóng Chữ”
cũng bằng
sự
si mê, nhưng
là si mê vì không hiểu
hết,
si mê vì có thể
dùng sự
sáng tạo
để
tìm được
một
chút tương
đồng
giữa
hai thế
hệ.
“Chia xa rồi
anh mới
thấy
em
Như
một
thời
thơ
thiếu
nhỏ
Em về
trắng
đầy
cong khung nhớ
Mưa
mấy
mùa,
mây mấy
độ
thu
Vườn
thức
một
mùi hoa đi vắng
Em vẫn
đây mà em ở
đâu
Chiều
Âu Lâu
bóng chữ
đọng
chân cầu”
Bài thơ
vỏn
vẹn
bốn
mươi
chín tiếng.
Và thêm cả
với
tiêu đề
“Bóng Chữ”
, năm mươi
mốt
tiếng
thơ
đủ
làm người
ta phải
bối
rối.
Câu thơ
đầu
tiên vẽ
ra sự
chia cắt:
Em – Tôi – Hai Thế
Giới.
“Chia xa rồi
anh mới
thấy
em”
Sự
“chia xa” ở
đây là khoảng
cách không gian hay là khoảng
cách tâm hồn
giữa
hai thực
thể?
Đây là tiếng
thơ
được
thốt
lên sau một
lời
từ
biệt
xa cách hay vang vọng
trong sự
im lặng
giữa
“anh” và “em”, không thể
thấu
hiểu
– không thể
chạm
vào nhau?
Tôi hình dung thực
thể
“em” ở
đây vừa
là kí ức,
vừa
là hiện
tại.
“Em” là thực,
cũng là ảo
ảnh.
“Em” đã rời
xa, và “em” vẫn
còn ở
lại.
Thế
là chất
liêu trai vô tình phủ
lên “Bóng Chữ”
như
một
vạt
áo mỏng
manh. Em hữu
hiện
hay em chỉ
là mơ
thôi? Độc
giả,
hay chính cả
tác giả,
cũng không rõ.
Có lẽ
Lê Đạt
đã dồn
hết
tâm sức
vào bài thơ,
cũng có thể
ông viết
nó trong cơn
mơ
chập
chờn.
Ông viết:
“Chia xa rồi
anh mới
thấy
em” vừa
có chút gì hối
tiếc,
vừa
có hoài niệm
về
một
điều
thiêng liêng đã phai tàn. Giống
như
một
kẻ
say ngủ
vừa
bị
kéo ra khỏi
giấc
mơ,
trong mình vẫn
mang chút dư
âm ám ảnh,
tuy không rõ hình hài. Điều
duy nhất
Lê Đạt
đã xác định,
là ông đã “thấy”.
Khi “rồi”
kết
hợp
với
“mới”,
câu thơ
liên tưởng
đến
sự
muộn
màng. Nếu
hiểu
theo nghĩa căn bản
thì “anh chỉ
thấy
em khi đã chia xa”. Xa hơn
nữa
có lẽ
là: Khi mất
đi điều
gì, người
ta mới
biết
mình đã từng
có.
Tình yêu có lẽ
là thế.
Bi kịch
rất
hồn
nhiên, cay đắng
rất
nhẹ
nhàng.
Tôi nghĩ “Bóng
Chữ”
là một
dạng
như
thế.
Khi đọc
tôi thấy
hoàn toàn thanh thản,
khi suy nghĩ tôi lại
thấy
như
nhuốm
màu một
loại
bi kịch
của
yêu đương.
“Chia xa rồi
anh mới
thấy
em
Như
một
thời
thơ
thiếu
nhỏ”
Khi liên kết
hai câu thơ
với
nhau, câu thơ
thứ
hai có vẻ
như
rõ nghĩa hơn.
Ta vô tình dùng tiếng
cuối
của
câu thứ
nhất
làm chủ
thể
của
câu thứ
hai. Có thể
hiểu
thành:
“Em như
một
thời
thơ
thiếu
nhỏ”
Ai đã từng
quan tâm đến
trường
phái “thơ
tạo
sinh” của
Lê Đạt,
có lẽ
sẽ
biết
đến
câu thơ:
“Mimosa chiều
khép cánh mi môi xa”
Lê Đạt
– với
cách cấy
những
chất
men lạ
vào thơ,
mà “Bóng Chữ”
cũng là một
ví dụ
– đã sử
dụng
sự
tương
đồng
về
âm thanh của
chữ
nghĩa một
cách tài hoa để
tạo
nên những
hỗn
hợp
từ
lạ
lùng và đa nghĩa. Hỗn
hợp
“thơ
thiếu
nhỏ”
là một
quy trình đảo
ngược
lại
so với
“mi môi xa”. Thay vì tách một
từ
thành ba từ
có nghĩa, Lê Đạt
ghép ba từ
có tính tương
đồng
về
nghĩa tạo
thành một
thứ
phức
chất
đa nghĩa, đa dạng.
Bản
chất
mỗi
tiếng
thơ
cũng được
hiểu
theo nhiều
cách khác nhau. “Thơ”
có thể
là thời
thơ
ấu,
cũng có thể
là nàng thơ,
hay đơn
giản
chỉ
là thơ
thôi. “Thiếu”
là thiếu
thời,
hay là sự
thiếu
vắng?
Theo đó, “Em như
một
thời
thơ
thiếu
nhỏ”
có thể
là: “Em như
một
thời
vắng
tuổi
nhỏ”,
“Em như
một
nàng thơ
đã hết
thơ
ngây” hay “Em như
một
nàng thơ
đã già”…Sức
cạm
bẫy
của
con chữ
trong dòng thơ
này có thể
được
đồng
hoá với
hình ảnh
“Em”. Em, cũng chính là Bóng Chữ.
Bóng Em, Bóng Chữ,
Bóng Ai?
Lê Đạt
từng
khẳng
định
rằng,
thơ
ông viết
lên từ
bóng chữ,
tức
là khẳng
định
sự
nhập
nhoà mờ
ảo
từ
trong thơ
ông có nguồn
gốc
từ
con chữ.
Ông “dùng bóng chữ,
dùng hàm nghĩa nên chữ
nọ
gọi
chữ
kia, sinh sôi nảy
nở…”
cũng giống
như
dùng ma lực
để
điều
khiển
những
con chữ.
Chữ
của
ông có hẳn
một
cái hồn
riêng, tự
biết
yêu, biết
nhớ,
biết
khóc, biết
cười.
Với
thơ
Lê Đạt,
chữ
nghĩa là chủ
động,
độc
giả
trở
thành bị
động.
Đặc
trưng
cho sự
chủ
động
và tính “sinh sôi nảy
nở”
ấy
trong “Bóng Chữ”
có lẽ
là câu thơ
thứ
ba. Bảy
tiếng
thơ
gợi
niềm
nhớ
thương
hết
sức
tha thiết,
đắm
say.
“Em về
trắng
đầy
cong khung nhớ”
Ma lực
của
những
tiếng
thơ
có thể
làm độc
giả
lệch
hướng,
và làm ý nghiã thực
của
câu thơ
trở
nên méo mó. Nhưng
cũng có thể
chính ma lực
ấy
tạo
nên cái hồn
của
câu thơ,
mà qua mỗi
lần
đọc,
người
ta lại
có cách cảm
nhận,
cách thấu
hiểu
khác nhau. Những
chữ
“trắng”,
“cong”, “khung nhớ”
bao giờ
cũng là dấu
chấm
hỏi
với
độc
giả,
khi tiếp
cận
bài thơ
lần
đầu
tiên. Dễ
thấy,
độc
giả
cần
thời
gian để
suy ngẫm
“Bóng Chữ”.
Sự
nghịch
ngợm
của
chữ
nghĩa đã trở
thành thách thức
với
người
đọc
thơ
Lê Đạt.
Không phải
ngẫu
nhiên mà người
ta gọi
thơ
ông là thơ
“tạo
sinh”.
Tôi gọi
“Bóng Chữ”
là một
loại
bi kịch
nhẹ
nhàng, ấy
là từ
màu trắng
sao mà tinh khôi quá. Khi màu sắc
thanh khíêt được
lồng
ghép trọn
vẹn
vào “khung nhớ”,
tôi cảm
nhận
được
sự
đầy
đặn.
Tại
sao nỗi
nhớ
tha thiết
lại
được
bộc
bạch
ngọt
ngào và dịu
nhẹ
như
thế?
Tuy là cồn
cào, nó vẫn
rất
thơ.
Tuy là màu trắng
xa xôi đã che khuất
bóng ai, nó vẫn
là một
màu sắc
trong trẻo.
Nó còn tạo
ra một
trường
liên tưởng
tới
màu trắng
của
riêng Hàn Mạc
Tử,
cũng đắm
say, cũng đậm
đà:
“Mơ
khách đường
xa, khách đường
xa
Áo em trắng
quá nhìn không ra
Ở
đây sương
khói mờ
nhân ảnh
Ai biết
tình ai có đậm
đà”
Ta bắt
gặp
ở
đây chất
liêu trai tương
đồng
từ
màu trắng
của
Hàn Mạc
Tử.
“Bóng Chữ”
có lẽ
cũng là một
dạng
“sương
khói mờ
nhân ảnh”
như
thế,
mơ
hồ
và vô định.
Vạt
áo trắng,
màu trắng
có thể
là màu của
ảo
ảnh,
nhưng
ẩn
sau nó là sự
đậm
đà của
tình yêu, từ
đó tình yêu trở
nên hư
hư
thực
thực.
Ở
một
khía cạnh
khác, màu trắng
còn là màu của
tang thương,
mất
mát. Phải
chăng Lê Đạt
đã gián tiếp
để
tang một
tình yêu dang dở
khi nói: “Em về
trắng
đầy
cong khung nhớ”?
Trong câu thơ
này, từ
“cong” trở
nên đặc
biệt.
Theo một
số
ý kiến,
từ
“cong” gợi
nhục
cảm.
Với
riêng tôi, từ
“cong” có đủ
sắc
thái mềm
mại
để
làm tiếng
“khung” mềm
ra. Hình tượng
“khung nhớ”
sẽ
không đủ
thơ
nếu
không có tiếng
“cong” gợi
tả
đứng
trước.
Tiếng
“cong” bẻ
gãy sự
cứng
nhắc
của
“khung”, và khi “khung” đi liền
với
“nhớ”,
cụm
từ
trở
nên mềm
dẻo,
ngọt
ngào và gợi
chất
thơ
đến
lạ
kì. Câu thơ
trở
nên đắm
say là vì vậy,
dẫu
bóng chữ
đã làm nội
dung câu thơ
trở
nên mập
mờ.
Khi nói “Em về
trắng
đầy
cong khung nhớ”,
thật
ra hình tượng
“em” đang đến
hay đang đi? Em đến
mang theo nỗi
nhớ
hay em đi để
lại
nỗi
nhớ?
Hay phải
chăng em vẫn
đây mà nỗi
nhớ
vẫn
tràn về
“đầy
cong khung nhớ”?
Dầu
là gì, đó thực
chất
vẫn
là một
tình yêu quá đắm
say.
Tuy vậy,
nếu
tiếp
nhận
“cong” theo một
hướng
khác, con chữ
trở
thành trĩu nặng.
“Khung nhớ”
như
không đủ
để
cất
giữ
niềm
nhớ
thương,
vì quá nhiệt
thành, quá tràn trề
mà “cong” làm trĩu nặng
cả
“khung nhớ”.
Nỗi
nhớ,
từ
một
khái niệm
trừu
tượng,
đã biến
hoá thành một
khái niệm
vật
chất;
hay chính “khung nhớ”
là đại
lượng
đong đếm
nỗi
nhớ.
Nỗi
nhớ
vô hạn
như
được
dồn
nén vào “khung nhớ”
hữu
hạn,
vậy
nên mới
tràn trề
và “hết
mình”.
“Em về
trắng
đầy
cong khung nhớ
Mưa
mấy
mùa
mây mấy
độ
thu”
Câu thơ
thứ
tư
tạo
nên một
sắc
thái khá ngọt:
Mưa
mấy
mùa – Mây mấy
độ.
Khi “Mây” và “Mưa”
đi với
nhau, người
ta dễ
liên tưởng
đến
“mây mưa”
– chỉ
chuyện
phòng the. Trong câu thơ
này, “Mây” và “Mưa”
đã bị
phân cách bằng
“mấy”,
một
từ
phíêm định.
Từ
“mấy”
tự
thân có thể
tương
tác với
những
từ
khác, khi đi liền
với
“Mây”, “Mưa”,
chúng như
có ý hỏi
nhau về
chuyện
yêu đương.
Bản
thân từ
“mấy”
cũng trải
qua “một
đời
tình”:
“Nước
non cách mấy
buồng
thêu”
hay
“Mấy
lần
cửa
đóng then cài”
Song, trong câu
thơ
này, “mây”, “mưa”,
“mấy”
vẫn
có thể
mang một
cách hiểu
khác. Đó là sự
vần
xoay của
thời
gian và vũ trụ
– một
dạng
hư
ảnh
mà nỗi
niềm
“đầy
cong khung nhớ”
đã tạo
ra. Chủ
thể
trữ
tình như
không ý thức
được
sự
trôi tuột
của
thời
gian, không gian mà vô thức
hỏi:
“Mưa
mấy
mùa, mây mấy
độ
thu?”. Theo đó, mây, mưa
nhuốm
màu thời
gian như
một
dấu
hiệu
gián tiếp
về
nỗi
nhớ
của
yêu đương,
hay còn là sự
tiếc
thương
của
một
điều
gì đó đã xa xôi. Nỗi
niềm
đong đầy
hoà vào cả
đất
trời,
niềm
cô đơn
lại
như
lan toả,
phảng
phất
nhưng
rất
êm dịu
– điều
mà tôi từng
tìm thấy
ở
“Màu thời
gian” của
Đoàn Phú Tứ:
“Màu thời
gian không xanh
Màu thời
gian tím ngát
Hương
thời
gian không nồng
Hương
thời
gian thanh thanh”
Nếu
ở
câu thơ
thứ
tư,
hương
– sắc
của
nỗi
nhớ
chỉ
là thoang thoảng,
thanh thanh, dịu
nhẹ,
thì sang câu thơ
tiếp
theo, hương
– sắc
ấy
đã trở
nên nồng
đậm
hơn
hết,
trở
thành hương
sắc
của
một
đời,
một
kiếp:
“Vườn
thức
một
mùi hoa đi vắng”
Có ý kiến
cho rằng
cả
trục
nhớ
của
bài thơ
nằm
trong chữ
“thức”.
Với
riêng tôi, “thức”
là một
từ
đắt,
và trong ngữ
cảnh
này, nó mang nghĩa “sống”:
Hoa đi vắng,
vườn
không ngủ.
Hoa đi vắng,
vườn
vẫn
sực
mùi hương.
Có lẽ
đó là mùi hương
của
nhớ
nhung, đủ
để
lan toả
và phả
vào độc
giả
một
chút bâng khuâng. Có lẽ,
“thức”
ở
đây là thao thức,
nhớ
mong, là sự
gợi
nhớ
về
một
điều
thiêng liêng đã thiếu
vắng.
Cũng có lẽ,
“thức”
chính là thức
tỉnh,
rằng
“Khi đã mất
đi, người
ta mới
ý thức
được
mình đã từng
có.
Những
vô thường,
yêu dấu,
tiếc
thương,
nhung nhớ
về
một
“mùi hoa đi vắng”
của
chủ
thể
trữ
tình đã được
đánh thức
như
thế.
Khi không còn mùi hoa, vườn
vẫn
rực
rỡ,
nhưng
đã vô hồn.
“Mùi hoa” như
là dấu
hiệu
của
hồn
vườn,
là chất
liệu
chân thành và vô giá nhất
để
tạo
thành vườn.
“Mùi hoa đi vắng”
tức
là một
phần
của
vườn
đã đi mất
vĩnh viễn.
Vườn
thức.
Phải
chăng, “thức”
ở
đây còn có ý chỉ
sự
vô cảm,
vô hồn
của
vườn
khi đã mất
mùi hoa?
Tình yêu trong
“Bóng Chữ”
không cầu
kì mà giản
đơn
đến
bất
ngờ.
Tuy vậy,
cái sự
gần
như
hơi
thở
ấy
không khíên cho mối
tình và nỗi
nhớ
ở
đây trở
thành đơn
điệu.
Tình yêu ấy
vừa
mang say đắm,
vừa
mang tiếc
thương,
vừa
gần,
vừa
hư
ảo,
vừa
mới
đây, lại
vừa
không còn nữa:
“Vườn
thức
một
mùi hoa đi vắng
Em vẫn
đây mà em ở
đâu”
Dường
như
đây cũng là một
câu hỏi
vô thức.
Hay đây chính là ảo
ảnh
của
một
dại
khờ?
Người
đã đi, nhưng
ảnh
hình và mùi hương
vẫn
còn vương
vấn.
Hay người
vẫn
đây, nhưng
tâm hồn
người
lại
quá đỗi
xa xôi. Chủ
thể
trữ
tình cảm
nhận
được
“em vẫn
đây”, nhưng
không thể
thấy,
không thể
chạm
vào. “Em” bây giờ
gần
như
một
hồn
ma, bóng em, vì nỗi
nhớ
niềm
thương
mà hiện
hữu
thật
liêu trai và ám ảnh.“Em”
như
ở
khắp
nơi,
như
mùi hoa lẩn
khuất
quanh vườn,
nhưng
chưa
từng
xuất
hiện.
Mùi hương
ấy,
hình bóng ấy,
chỉ
là kí ức,
vì nỗi
nhớ
quay quắt
mà nhập
nhoà với
hiện
tại,
dường
có dường
không. Như
một
chút dư
âm còn sót lại
khi giai điệu
đã tàn phai, tiếc
thương
đã thành vô nghĩa. Tình yêu nghẹn
lòng đã biến
bóng em thành hư
ảo.
“Em vẫn
đây mà em ở
đâu”
Như
một
câu hỏi
không có lời
đáp, chỉ
vọng
về
một
chút dư
âm, ngân toả
và buồn
tha thiết.
“Em vẫn
đây mà em ở
đâu” phải
chăng còn có nghĩa là: em không còn nữa.
“Chia xa rồi
anh mới
thấy
em
Như
một
thời
thơ
thiếu
nhỏ
Em về
trắng
đầy
cong khung nhớ
Mưa
mấy
mùa,
mây mấy
độ
thu
Vườn
thức
một
mùi hoa đi vắng
Em vẫn
đây mà em ở
đâu
Chiều
Âu Lâu
Bóng chữ
đọng
chân cầu”
Khi tiếp
xúc với
“Bóng Chữ”,
ta dễ
dàng nhận
thấy
được
nhãn tự
của
bài thơ,
chính là “Bóng Chữ”.
Nhưng
đó cũng là từ
ngữ
gây bối
rối
nhiều
nhất,
bởi
nó không chỉ
hiện
diện
cho một
tình yêu dang dở
và chưa
thể
hoá kiếp,
mà còn là hiện
thân cho phong cách và những
sáng tác của
Lê Đạt.
“Bóng Chữ”,
không chỉ
là tên của
một
bài thơ
bốn
mươi
tiếng,
mà còn là tên của
một
đời
thơ.
Nếu
nói về
bài thơ,
“bóng chữ”
là bóng em, bóng người;
Nếu
nói về
đời
thơ,
“bóng chữ”
là nỗi
ám ảnh
chi phối
và “làm khổ”
Lê Đạt,
cũng như
làm những
người
yêu thơ
luôn phải
ngỡ
ngàng khi đọc
thơ
ông.
Câu thơ
“Chiều
Âu Lâu/ bóng chữ
đọng
chân cầu”
là câu thơ
gây khó hiểu
nhất
trong toàn bài. Vì sự
giản
lược
tới
mức
gần
như
tuyệt
đối
của
Lê Đạt
đối
với
từ
ngữ,
vận
dụng
từ
ngữ
bằng
sự
cô động
hết
mức,
nên ta có rất
nhiều
cách hiểu,
chỉ
với
một
câu thơ
của
Lê Đạt.
Không thoát khỏi
quy luật
đó, “Chiều
Âu Lâu/ bóng chữ
đọng
chân cầu”
cô đọng
tất
cả
tình cảm,
nhớ
thương
hay trăn trở,
bối
rối
chỉ
vào bảy
tiếng
thơ.
“Chiều
Âu Lâu” có thể
nói về
Âu Lâu, một
địa
danh ở
Yên Bái, cội
nguồn
của
Lê Đạt.
Nhưng
“Âu Lâu”, nếu
được
tách ra, có thể
hiểu
thành một
mái lầu.
Một
nơi
hò hẹn,
hay chỉ
là một
chốn
dừng
chân trong giây phút của
người
du khách. Có vẻ
như
người
du khách ấy
chính là bóng em, chợt
đến
rồi
chợt
đi, để
lại
nỗi
nhớ
thiết
tha khôn cùng.
Từ
“âu”, trong một
trường
nghĩa nào đó, còn có thể
là âu lo, âu yếm
hay là “Âu đành quả
kiếp
nhân sinh” (Truyện
Kiều),
tức
là buông xuôi, từ
bỏ.
Theo mỗi
lớp
nghĩa, “Âu Lâu” sẽ
là một
biểu
tượng
khác nhau. Nó vừa
là ảo
giác từ
nỗi
nhớ
của
một
kẻ
si tình, nó cũng vừa
là sự
từ
bỏ
của
chính niềm
say đắm
ấy.
“Chiều
Âu Lâu” là kí ức
hay là hiện
tại?
Ta không rõ, và Lê Đạt
cũng nhập
nhằng
như
thế.
“Chiều
Âu Lâu
bóng chữ
đọng
chân cầu”
Trong chiều
Âu Lâu ấy,
hình ảnh
bóng em, hay bóng chữ
“đọng”
lại
thành dòng kí ức
như
chưa
thể
trôi đi, chưa
thể
hoá kiếp.
Có lẽ
vì tình yêu là dang dở,
dù Lê Đạt
mang màu trắng
để
tang, cũng không đủ
thanh thản
để
rời
khỏi
nhân thế.
Tình yêu ấy
đã biến
hoá thành bóng chữ,
bóng em, ám ảnh
một
đời
yêu đương.
Tình yêu ấy
mang quá nhiều
tiếc
thương
và nỗi
nhớ
mà không thể
siêu thoát. “Bóng chữ”,
hay bóng ai, “động
chân cầu”
như
trĩu nặng
cả
một
đời.
Trong một
số
tài liệu
khác, tôi thấy
có một
sự
khác biệt
ở
câu thơ
cuối,
đó là:
“Chiều
Âu Lâu/ Bóng chữ
động
chân cầu”
Trong trường
hợp
này, bóng em đã vụt
thoáng qua trong chữ
“động”,
rồi
lại
tan biến
trong chữ
“bóng”. “Bóng”, có lẽ
là không thật,
là hư
ảo,
là “không còn nữa”.
Cả
bài thơ,
bởi
làm nên từ
bóng chữ,
nên chao đảo
giữa
thực
và ảo,
giữa
có và không. Sau cùng tình yêu của
“Bóng chữ”
là phôi pha hay vĩnh cữu,
ta không biết.
“Chiều
Âu Lâu
Bóng chữ
đọng
chân cầu”
Tôi tin Lê Đạt
đã thực
sự
để
tang một
tình yêu dang dở
trong “Bóng chữ”.
Có ý thức
muộn
màng, có nhớ
nhung tràn trề
đắm
say, có xót thương
cho tình yêu…, tất
cả
đã quá đủ
để
giã từ
một
tình yêu, một
linh hồn
rỗi.
“Bóng chữ”
có thể
rất
nhập
nhoà, rất
vô thực,
và ta không thể
nào thấu
cảm
nó trọn
vẹn.
Song có thể
nói Lê Đạt
đã hoàn toàn thành công khi vẽ
lên tình yêu màu sắc
của
nhớ
nhung trong một
thế
giới
ảo
ảnh.
Nơi
ấy,
tình yêu là bóng, nỗi
nhớ
cũng là bóng. Tất
cả
đều
là hư
ảo,
liêu trai, mong manh và không có màu.
Lê Đạt, Kẻ Đi
Dây Giữa Chập Chùng Bản Ngã
(11/04/2012
03:01 PM)
Chúng ta cùng
biết, Nhà thơ Lê Đạt là một trong những kiện tướng của phong trào Nhân Văn Giai
Phẩm, giữa thập niên 50 tại miền Bắc; nhưng có dễ ít người biết rằng, ông còn là
một nhà văn với những truyện ngắn mang đầy tính trào lộng, sâu sắc tới dữ dội,
không thua gì những bài thơ xung phá thẳng vào thành trì chế độ độc tài chuyên
chế.

Lê Đạt (Ảnh
Ngô Xuân Phú)
Nếu ở lãnh vực
thi ca, với thi phẩm nổi tiếng "Bóng Chữ," Lê Đạt cho thấy sự cật lực của ông
trong nỗ lực phá rừng, xẻ núi cho thi ca có được một chân trời, một bình minh
mới, thì, ở lãnh vực văn xuôi, qua tập truyện "Hèn Đại Nhân," ông lại cho người
đọc thấy mặt tài hoa khác, trong dòng văn học Việt Nam, hôm nay.
Bằng giọng văn
châm biến, trào phúng mà sức quyến rũ là cả một từ trường mạnh mẽ ngùn ngụt đẩy,
xô người đọc hăm hở với theo từng trang sách của mình, Lê Đạt, một lần nữa, đưa
thể truyện ngắn, tới một chân trời khác.
Chân trời hay
những cánh cửa mà, 15 truyện ngắn trong tuyển tập "Hèn Đại Nhân" mở ra cho người
đọc, là, những chân trời, hay những cánh cửa ẩn dụ, lênh láng tiếng cười và,
cùng lúc, nước mắt.
Căn bản, là một
thi sĩ, cho nên suốt lộ trình văn xuôi mang tên "Hèn Đại Nhân" của Lê Đạt, người
đọc sẽ gặp được không biết bao nhiêu những đoạn văn như thơ, những nhân cách hóa
bất ngờ, mà người ta thường chỉ thấy được, nơi những tài năng ngoại khổ. Những
bất ngờ đầy thi tính này, lại luôn song hành, luôn kế cận với những hình ảnh hay
ý tưởng rất đời thường, rất mỉa mai, khiến người đọc khó lòng giữ được thăng
bằng cảm thức. Bước vào thế giới truyện ngắn mang tên "Hèn Đại Nhân" của Lê Đạt,
người đọc như một con diều giấy, và chữ nghĩa của tác giả là sợi giây tơ nõn, vô
hình, nhưng lại có khả năng thả ném con diều lên chín tầng mây, để rồi, chỉ cần
một chớp mắt hớ hênh, sợi giây chữ nghĩa của tác giả, lại giựt, ném con diều
xuống bùn, đất.
Như trong truyện
ngắn đầu tiên, truyện "Bài Haiku," khi đề cập tới một nhân vật có tên là Yôda,
một danh tướng buông gươm, cởi áo tìm về nẻo đạo, và ước mơ cuối cùng là được
thở hơi thở thi ca, hơi thở Hài Cú, bên cạnh một Basô, bất tử. Lê Đạt viết:
"Hình như đấng
tối cao cũng chứng cho lòng thành của người kiếm sĩ dốc lòng đổi nghiệp, nên
những hạt mộng bỗng nẩy mầm trái tim quen với sự sát phạt, như bày chim ngậm
những chồi xanh thả mùa xuân phủ bóng rợp lục chiến trường trơ trụi ngày xưa.
Tướng quân Yôđa bỗng làm thơ... Và thơ ông được truyền tụng chẳng kém gì những
chiến tích thuở trước."

Dòng văn xuôi
đang ắp đầy những giọt nước thi ca lấp lánh, vậy mà, không một báo trước, chỉ
bằng một dấu chấm, Lê Đạt viết tiếp: "Chỉ ít lâu sau, ông đã trở thành trưởng
môn trường phái thơ Nayoga một cách hết sức dân chủ, tuy chẳng thông qua bỏ
phiếu kín..."
Những cụm từ
"hết sức dân chủ" và "thông qua bỏ phiếu kín" là những cụm từ phản ánh sinh hoạt
thời đại, sinh hoạt đời thường, hiện tại, của xã hội chủ nghĩa, của Việt Nam hôm
nay.
Những tương
phản, như những đối cực triệt để giữa hư cấu và đời thường, là những cặp song
sinh bất thường, nếu không muốn nói là "quái thai," đầy rẫy trong cõi văn xuôi
Lê Đạt.
Tuy nhiên, như
đã nói, căn bản, tác giả là một thi sĩ, cho nên, cách gì, người đọc cũng vẫn gặp
được nơi tác phẩm này, những ví von, những so sánh hay những nhân cách hóa bất
ngờ, như những ngụm nước mưa đầu nguồn, mà một lữ hành không chờ đợi trong cuộc
hành trình sa mạc dằng dặc của mình.
Cũng ngay nơi
truyện ngắn vừa kể, khi nói về Basô, tác giả của những bài thơ Hài Cú tiêu biểu
nhất của thể thơ Nhật Bản này, tỉnh rượu, bỏ đi, khiến trên một chục nhà danh
họa, cuối cùng, chẳng một ai, ghi được chân dung Basô, Lê Đạt viết:
"Trời chuếnh
choáng gió như thế này, ai mà lại hóa dại ngồi một chỗ, khi con đường trước mặt
tung tăng như một lời mời viễn du."
Rồi, cũng chỉ
với một dấu chấm nhỏ bé, Lê Đạt lại bất ngờ giựt rơi, giựt xuống con diều người
đọc, chúi nhũi bùn, đất, với phản diện, tuy không khốc liệt, nhưng mênh mang ẩn
dụ thấm thía rằng:
"Cuộc vẽ bỏ dở
và mãi cho đến giờ, Basô vẫn chưa có chân dung.
"Người thì thậm xấu hát thì thậm hay. Ai có được bức chân dung Trương Chi? Không
biết Basô có thậm xấu như Trương Chi không, nhưng thơ Basô quả thậm hay..."
Cũng vậy, trong
truyện ngắn "Vùng May Rủi," một chuyện giả tưởng khác, viết về hai người bạn già
bỏ cả một đời chỉ để tìm cách đạt tới "chiến thắng" sau cùng, với những vòng
quay, những con số trong một canh bạc.
Sòng bài ở đây,
hiển nhiên, chỉ là một thế thân của định mệnh.
Khi mô tả những
viên bi lăn tới, như những vòng lăn lạnh lẽo cuốn theo bao nhiêu sinh mạng về
cõi chết, Lê Đạt viết:
"Định mệnh soi
mình lúc ẩn lúc hiện trên viên bi ngà quay ngược chiều với chiếc cần quay kim
loại lanh canh nơi đáy đĩa thăm thẳm...Hạnh phúc... hạnh phúc sẽ rơi vào con số
nào? Dăm tháng nửa năm, một phát súng lại nổ ngay cửa sòng bài chấm dứt một cuộc
lần tìm may rủi bất tận. Có phải may rủi nằm trong thân phận con người?
Và, chỉ ít dòng
sau, khi mô tả sự ra về thất vọng, bẽ bàng của con thiêu thân manh tâm kình
chống định mệnh, Lê Đạt viết:
"Rồi hai người
lặng lẽ ra về. Con đường đảo ngây ngất mùi hương vào xuân và những đôi trai gái
đang giải khát môi nhau trên ghế đá. Tiếng chuông từ tháp giáo đường lanh lảnh
báo mùa phục sinh nở hoa."
Phải chăng, nhờ
những đối cực triệt để kia, mà cõi văn xuôi Lê Dạt, đã có được cái ma lực huyễn
hoặc, lôi cuốn?
Cái ma lực của
hạnh phúc hư ảo và, đớn nhục nhức buốt mà, vẫn ắp đầy thi tính?
Nó như một thứ
nhân cách phức hợp, chập chùng trong mỗi sinh vật được chỉ danh là con người,
trên mặt địa cầu này.
Du Tử Lê,
(Cailf. 2007.)
|
Bây giờ, xin được nói về thơ Lê
Đạt |
 |
 |
 |
|
Văn Chinh
|
|
Thứ hai, 03 Tháng 11 2008 |
|
Đọc Bóng
chữ, Nhà xuất bản Hội nhà văn HN- 1994
Bài này tôi viết đã lâu và vì ông mà viết. Nhưng bây giờ nó đã không còn cần
cho ông nữa. Tôi post nó lên là vì bạn yêu thơ, vì thơ.
Dăm năm trước
khi Bóng chữ ra đời, 20 bài trong nó được trích để in chung với 16
bài của Dương Tường thành tập 36 bài tình (ĐB Trẻ- 1989). Đây là sự
trở lại văn đàn sau 30 năm im lặng của Lê Đạt, người ta đón đợi sự tiếp tục
cái gay gắt với tiêu cực của tác giả Cha tôi (1957,) nhưng không thấy, lại
chỉ thấy ông chi chành những trầu già át cơ đâu đâu. Có người còn đem chuyện
rồng trong mây để nói rằng cánh nhân văn chỉ như rồng ẩn mới thiêng, chứ
phơi ra giữa trời thì cũng không...có gì.
Có người viết
bài phê bình cả tập, cho là thơ dâm, có người bảo thơ tây gỗ. Tôi lấy làm lạ
về cách đánh giá ấy, nhưng im lặng. Đó là lúc mà xoá bao cấp đã bộc lộ tính
nguy hiểm của nó với thói quen được bao cấp. Văn đàn từ năm 1987 thoải mái
nói đi nói lại đang dần trở nên quá đà mà chợt căng thẳng và nhiều ý kiến
bắt đầu lo lắng đến xu hướng phủ nhận những giá trị đã được khẳng định từ
quá khứ.
Một ngày tháng Tư năm 1994, tôi đến Hội có việc kinh phí cho Hội nghị Nhà
văn trẻ, nhân đó “vừa xin vừa lấy” một quyển Bóng chữ còn thơm mùi
mực. Về nhà đọc một mạch hết 108 bài thơ được ôm bởi cái bìa sang trọng
không cố tình của Nguyễn Quân. Sớm hôm sau gặp Lê Đạt ở Hội nghị Nhà văn
trẻ, tôi xá ông rồi nói:
- Xin cám ơn chú về tập Bóng chữ, rất hay, rất độc đáo và dân chủ
(ở chỗ ta có thể hiểu từng bài, từng chữ theo những cách khác nhau). Xin chú
một chữ ký vào đây.
Lê Đạt nhân đó thông báo rằng ông mới có cuốn Hèn đại nhân ( ĐB
Phụ nữ- 1994), nhưng tôi đã từ chối một gợi ý tế nhị, đơn giản vì không
thích văn xuôi ông.
Tôi muốn viết về Bóng chữ, nhưng nghĩ ngợi chưa xong thì văn đàn
có cuộc trao đổi về thơ rồi nhanh chóng trở thành cuộc tranh luận gay gắt và
không còn là vấn đề thơ thuần tuý nữa. Thơ Lê Đạt và thơ nói chung không thể
đọc trong những lúc to tiếng, lúc vượt dốc. Nó không kén bạn đọc mà kén tâm
thế khi bạn đọc nó. Nên tôi lại im lặng.
Trong cuộc tranh luận ấy, tôi thấy người to tiếng nhất và có vẻ thắng thế
cũng khôn ngoan không nói gì đến thơ hiện tại, chỉ dẫn thành tựu thơ chống
Mỹ để khẳng định thơ ta hay rồi, không cần đổi thi pháp, không cần cách tân;
cuộc đánh tráo mục đích này thì việc thi nghé với trâu đực kềnh của ông cha
cũng chỉ trên có nửa bậc. Ngay cả cái lỗi thủ cựu, ở kinh tế thì sẽ bị dọn
đường cho đổi mới cơ chế, riêng thơ thì không cần đổi mới, lỗi bị cho qua,
vì người ta khen thơ mình hay quá nên quên tiệt mục đích của tranh luận là
mở đường cho thơ đi lên. Rốt cục, nó khẳng định quá khứ. Tôi nói khôn vì nếu
dẫn thơ hiện tại thì nguy lắm. Nhiều nhà thơ nổi tiếng và có nhiều khả năng
sẽ vào văn học sử nhưng giờ đây đang chịu chung số phận với các nhà thơ bán
thóc vợ in thơ, là bị bạn đọc hờ hững. Người ta có cắt nghĩa việc này, nhưng
chỉ có ít ý kiến dè dặt cho rằng chất lượng của thơ là một trong các nguyên
nhân, và tất cả còn lại thì đổ riệt cho tại cơ chế thị trường, tại thị hiếu
bạn đọc xuống cấp. Ô hay! Các nhà thơ thời Thơ Mới được bạn đọc thời cơ chế
thị trường vồ vập đấy chứ? Và bạn đọc thơ hôm nay là do chính các nhà thơ về
cơ bản lành mạnh của ta nuôi dưỡng thị hiếu đấy chứ?
Đằng khác, tôi thấy thơ giờ đây không dở. Nếu bình tĩnh đọc lẻ từng bài
trội của mỗi nhà thơ, dù trẻ dù già, đều có câu hay trên cái nền khá vững
chãi của cấu trúc bài; chỉ có điều, đọc xong bạn đọc lơ đãng ngay bởi hình
như đã đọc ở đâu đó những gì na ná như vậy, đâu như giai đoạn 1930- 1942,
giai đoạn 1942- 1964 hoặc 1964- 1975 và từ đó đến nay. Tôi tạm gọi đó là
hiện tượng nhờn thơ. Có lẽ quen và nhàm thì đúng hơn, nhưng tôi muốn so sánh
với hiện tượng nhờn thuốc. Một củ sâm thời các cụ có thể làm tăng lực, khiến
người sắp chết có thể sống thêm vài tháng để chờ đông đủ con cháu, còn giờ
đây chính củ sâm ấy có thể làm lửng dạ mà biếng ăn. Tôi muốn cắt nghĩa tính
biếng thơ của bạn đọc như vậy, không phải để an ủi các nhà thơ mà để nói
rằng bạn đọc hôm nay đã khác một cách biện chứng và lành mạnh. Trước khi đọc
anh, người ta đã học và đọc cả 4 giai đoạn thơ- nơi từ đó anh đi ra.
Đứng trước thực trạng bạn đọc đã khác, Lê Đạt tìm đến họ bằng một cách
thơ khác. Ông quan niệm rằng cách nói khác sẽ là cách tốt nhất để chống lại
thói quen nghe mà chả nghe gì (nhờn). Và, ông liền bị thói quen nghe chống
lại. Ví dụ, ông có một câu thơ:
Mua rừng hoa múa tím
Liền bị người đánh máy bỏ dấu sắc của chữ múa. Tác giả sửa
lại, thợ sắp chữ lại bỏ. Biên tập viên lấy lại, thợ sửa morat lại bỏ. Rồi
cuối cùng câu thơ được in ra:
Mua rừng hoa mua tím
Quá trình ấy thật khăng khăng như một... thói quen. Và, hình như thói
quen ấy là do các nhà thơ góp phần lập nên vì quan niệm thơ cần dễ hiểu với
công chúng, hệ quả là, thơ dần dần bị bình dân hoá? Một ví dụ khác. Tôi được
nghe chị Thuỵ Khuê đọc bài bình Bóng chữ của chị. Thuỵ Khuê đã chuyển
dấu huyền của từ ồ sang chữ hô ở câu cuối đoạn thơ:
Đội mắt em đi mấy nắng rồ
ơi em rất ô
ơi em rất hồ
Trắng vỗ ồ hô trúc bạch ( Vào hè) chị Thuỵ Khuê đọc thành Trắng
vỗ ô hồ Trúc Bạch
Câu thơ vốn có thềm văn hoá “da trắng vỗ bì bạch” khiến tứ thơ chợt
chuyển động trong không gian khác, đến một thời gian khác (từ vào hè hôm nay
vòng về giai thoại cổ rồi quay lại lối nói bình dân tô hô). Nhà phê bình chỉ
thêm bớt một dấu huyền đã làm mất đi của bạn đọc một sướng khoái. Nhân thể
cũng nói một điều để khỏi phải quay lại.
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên
Bức khoả thân thơ nói trên của cụ Nguyễn Du treo ổn định hai thế kỷ qua,
bạn đọc thì rất khoái rồi, đặc biệt cụ Chu Mạnh Trinh. Chỉ đến khi các cụ
thời phong kiến cãi nhau thì có mấy người mới gọi đó là dâm thư, vì hình ảnh
rõ ràng trong ngọc trắng ngà mà hôm nay người trí thức gọi là nuy, người
bình dân đơn giản nói là cởi truồng, là tô hô tênh hênh. Vẻ đẹp cổ điển có
giá trị tự nó và giá trị phát minh. Còn vẻ đẹp hiện đại không những thế, còn
phải khác, phải chuyển động mới không sa vào vị thế người thứ hai ví người
đẹp với hoa hồng.
Khác và chuyển động nhằm gợi sự lắng tai, sự tò mò nơi bạn đọc vừa là đặc
điểm thứ nhất của cách thơ Lê Đạt, tôi tạm gọi là cách chống thói quen nhờn
thơ. Lê Đạt còn những cách khác. Ông chủ trương mỗi chữ đều tham gia phát
nghĩa cho câu thơ, bài thơ, nhưng không phải nghĩa tự vị mà ông gọi nó là
nghĩa tiêu dùng; nghĩa mới của chữ có được do nó được đặt trong tương quan
câu, trong nhịp thơ đi, độ vang vọng của nó hoặc do nó được đảo trật tự,
được hợp tác với chữ (cụm chữ) trước và sau nó. Ta hãy so sánh thơ Lê Đạt
với Thâm Tâm ở câu thơ hay theo thi pháp điển hình của Thơ Mới:
Người đi / ừ nhỉ / người đi thực
Nó chỉ có một thông tin và một cách đọc như tôi đã tách thành nhịp 2- 2-
3. Còn cách thơ Lê Đạt thì khác:
Sống khác làng
chết cùng quê liệt sĩ
Đọi máu thay lời
trang nghĩa trăng soi. ( Hoa nghĩa
trang)
Cụm chữ chết cùng và cùng quê rất ít dính dáng đến nghĩa tự
vị (rủ nhau tự tử, cùng bị bắn xuyên táo và đồng hương) mà đã phát nghĩa
mới: Cùng chết ngoài mặt trận, nhưng lại cùng “sống mãi”, đồng hương ở quê
mới có tên là liệt sĩ. Mặt khác, chúng chỉ được tạo bởi có ba chữ: chết
cùng quê nhưng khi đọc lại phải dừng giữa chừng để cùng chuyển nghĩa cho
chết rồi mới cho quê, rồi cả ba không còn nghĩa tự vị của chúng, thậm chí
không chết mà là sống mãi. Bốn chữ trang nghĩa trăng soi (đảo trật tự
trăng soi nghĩa trang vốn chỉ có một nghĩa) lại đạt hiệu quả mới ( cái chết
của các anh là) trang nghĩa, nghĩa trăng và trăng soi. Cũng vậy với:
Mấy lũn cũn dê con
Chân tân tất trắng ( Ông cụ chăn dê)
Nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Quân nói về cách thơ Lê Đạt như sau: “ Sự
việc được mô tả với sự di động của cái bóng của nó, toà kiến trúc được dựng
lên bởi các vật liệu quen thuộc, giống nhau...nhưng bóng đổ của các thành
phần tạo nên cái đặc sắc riêng của công trình; chính khoảng không, có bóng
đổ và ánh sáng đổi thay mới là bản chất của kiến trúc. Thơ xưa nay vẫn vậy
và ta chỉ thấy hết nó khi ta di động trong không gian của nó”.
Trong ký ức tôi đọng ba bài thơ của Lê Đạt viết năm ông ngoài hai mươi
tuổi: Cha tôi, Bài thơ trên ghế đá và Gia đình. Giờ đọc kỹ
thấy nó đã ủ mầm cách tân thơ nhưng về căn bản vẫn “hành bút” dưới bóng của
Thơ Mới.
(...) Hai người hôn nhau
Chớp rạch chân trời
Ghế đá rùng mình
lần đầu tiên
thấy chán đời làm
đá
(...)Hồi ấy chúng mình mới lớn
Không hiểu sao yêu nhau
Rồi: Pho tượng anh bóng đêm dài trước ngõ
Mưa gió gội trên đầu
Vòi vọi nhìn lên khung cửa
Sao gió lại được vào?
Ông sớm nhận thấy sự xế chiều của ban mai thơ dù ông không nhận thức
được rằng bình minh của cách mạng thường rất dài. Một Tố Hữu tạt ngang vào
buổi thoái trào của Thơ Mới, thổi vào đó hồn thiêng nước Việt ở khía cạnh
chống ngoại xâm. Lửa bùng cháy vẻ đẹp lộng lẫy sử thi và Tố Hữu trở nên ngôi
Sao Mai trên trời thơ đêm đang nhạt, trở nên một lực hấp dẫn, tạo trong quỹ
đạo một quỹ đạo khác, cao thượng trong cảm xúc thi tứ, bình dân ngoài ngôn
từ hình tượng. Tố Hữu xứng đáng vị trí soái chủ tao đàn thơ Việt từ 1942-
1966, (từ sau 1966 không thể dành trọng lực nhiều hơn cho thi ca.) Thế
rồi...các nhà thơ sau ông vẫn cao thượng trong cảm xúc thi tứ, vẫn bình dân
ngoài ngôn từ hình tượng nhưng không có ai có thể so sánh với ông về độ lớn
của nhà thơ thuần tuý, tại sao?
Nếu hình dung của tôi trên đây mà đúng, thì nguyên nhân chủ yếu nằm ở thi
pháp, tôi nghĩ vậy. Nhiều nhà thơ luôn tin cậy và đề cao tâm huyết, sự chân
thực của cảm xúc; vâng, nhưng lý giải sao đây về hiện tượng một bài? Một
câu? Chẳng lẽ sau bài thơ hay từ khi nhà thơ còn rất trẻ, anh ta không còn
tâm huyết, không còn chân thực nữa?
Trở lại với cách thơ Lê Đạt, chúng ta hãy thử đọc và mường tượng:
Nông nỗi heo may từ đó
Mưa đêm tuổi nổi ao đầy
Đồi cốm đường thon ngõ nhỏ ( Thu nhà em)
Một dậy thì không cưỡng nổi, có chút rưng rưng thương cảm trước tình thế
đương nở của một nụ hoa đến kỳ, ta tự thấy cần che chở nâng niu; tuổi nổi ao
đầy tinh tế và đẹp lắm nhưng cũng hớ hênh bất trắc lắm, bởi chính em còn
chưa tự thức. Cổ kim thơ tả dậy thì nhiều, nhưng tôi chưa thấy ai tả nổi cái
dậy thì đang diễn ra như thế, lại gây được niềm trân trọng nâng niu như thế
và lại có được cảm giác bất yên nơi người đọc đến thế. Ở một cấp độ khác, ba
câu sau đây đạt đến sự bất yên rõ rệt hơn, thành nỗi ám ảnh không ngừng:
Cây gạo già
lơi tình
lên hiệu đỏ
La lả cành
cởi thắm
để hương bay
Em về nói làm sao với mẹ ( Quan họ)
Sau khi đọc những câu thơ như thế, đọc lại bài Cha tôi, Bài thơ trên ghế
đá và nhất là Gia đình, tôi thấy rõ chúng là các áng văn xuôi có vần điệu.
Và phải chăng đó là lý do Lê Đạt khước từ đỉnh cũ, dũng cảm đơn độc đi xuống
để độc cước trèo một đỉnh mới hoang vu?
Nhưng Lê Đạt không phải là nhà thơ của chủ nghĩa phiêu lưu, chủ nghĩa
tiên phong dù ông đã là chưởng môn phái của chính mình. Có rất nhiều dẫn
chứng trong Bóng chữ để tin rằng khi rơi vào địa vị Robinson Crusoe, ông đã
dùng gậy chọc đất mà gieo hạt ca dao, dân ca, cổ tích rồi mong chờ với một
niềm kiên nhẫn khả kính cái mùa thơ bội thu ba chục năm sau:
Anh rình trắng nghìn trăng nghiêng ngõ mộng
Bước thị thơm chân chữ động em về (Tấm chữ)
Đỉnh “hoang vu” là tôi học lối nói đa nghĩa thay cho sự cô độc, sự “pháp
trường trắng” vốn là điều kiện tiên quyết của sáng tạo thơ; nhưng hoang vu
còn bao hàm vốn văn hoá vỡ lòng của người Việt. Ở bài thơ Xin sau
đây, Lê Đạt cũng đầy mặc cảm yếu bấy, dễ vỡ giữa thơ cảm thấy với thơ giấy
trắng mực đen như mọi nhà thơ chân thành, vừa nhiều kiêu hãnh vừa thường
trực một sự nghi ngờ:
Một chữ xanh nghĩa nhà chưa thuần hoá
Một góc tim hoang tình cả đại ngàn
Lê Đạt nói ra miệng, bằng lời người khác, rằng “chữ bầu lên nhà thơ”; nhà
thơ mỗi lần viết là một lần ứng cử, thành bại được quyết định bởi chỉ năng
lực thu phục các cử tri chữ mà thôi, ấy là đòi hỏi nghiệt ngã của thơ đối
với các nhà thơ. Dừng tìm tòi thu phục chữ là coi như... xong! Tinh thần này
chi phối nhà thơ lấy tìm làm mục đích tối thượng tới mức, ông đã viết trước
cho cái lúc ò e xe Văn Điển một mình: Mai sau ta chết / Ai đó đừng quên /
Đưa ta dăm đồng / Để ta ăn đường / Để ta sang sông / Để ta đi tìm / Chi
chi...chành chành ( Chi chành)
Nó như là một cầu nguyện thơ.
Ngay cả bài vừa dẫn, chất đồng dao dầy rậm suốt bài, nhưng đó là tinh
thần của nó, được gợi ra từ vài ba chữ mới, thường là một chữ để ca dao sống
lại trong một nghĩa khác, đôi khi là nghĩa khác hẳn thời nó ra đời. Nhà phê
bình Thuỵ Khuê đã định tính được điều này: “Thơ Lê Đạt là thơ tạo sinh những
giá trị cổ điển”:
Mắt xưa xanh mưa mành sương liễu sóng
Mùa sang may thu đánh ngải lông mày
Cũng có khi những chữ cụ thể của ca dao thì vắng mặt, nhưng vẫn “hiện
diện” do các chữ cạnh nó, gần nó được dùng để gợi ra:
Biết lập thu
Heo mi rải hồ
Biếc nổi mắt mùa xưa ( Tuổi Việt Minh)
Những chữ đã hết thời, đã chết: cây ải cây ai, hường (hồng), nhị (sao anh
ăn ở với em nhị tình) cũng được Lê Đạt tái sinh tương tự như vậy:
Nắng mười tám
má bờ đê con gái
Cây ải cây ai
gió sải tóc buông thề ( Sông quê)
Và: Anh muốn làm bông hoa
Đầu xuân cài cỏ mộ
Thơm em đôi nỗi hường ( Anh muốn)
Và đây nữa, chữ nhị tình đơn nghĩa trong bài hát cổ chợt làm nên một tứ
thơ lạ lùng, hai mà một, một mà hai:
Ôm em giờ
chưa giải đợi em xưa
Em thật
gối chen kề em mộng
Lòng một
giằng chia
nỗi nhị tình
Không chỉ ở văn chương truyền miệng, những chữ đã thuộc về văn hoá
của các tác giả cổ điển đều được Lê Đạt phủi bụi đem dùng như một thái độ
với quỹ chung văn hoá theo nguyên tắc làm nó tiếp tục sinh nở- nguyên tắc
của tín dụng xanh (chữ của LĐ trong bài Gọi đò):
Thiên lý chữ tuôn lòng nhật bạch
Không tận xanh
thơ thở trắng trời ( Lý Bạch)
Và: Tim đã hạ tình sâu đáy huyệt
Mà thanh thiên
ai bỗng hiện về
Ma người cũ
nhập cùng ma tình chết (Liêu Trai)
Và đây nữa, nguyên bài Nguyễn Du:
Nhớ liễu hồ
tới nhờ em xoã tóc
Em vắng nhà
bồ kết chửa đi xa
Cầu nước chảy
bóng chiều xuân tha thướt
Xanh thanh minh em thổi liễu vô hình
Viết đến đây tôi chợt nhớ đến lời Tô Hoài nhận xét về việc tìm chữ
của Lê Đạt: “Lê Đạt tìm chữ chứ không học chữ”. Vũ Quần Phương nói lại câu
ấy rồi thêm: “Còn mình, mình thấy Lê Đạt tìm chữ, nhưng tìm ở trong phòng
thí nghiệm” (VQP vốn là một bác sĩ). Sau đó có nhiều nhà phê bình còn nhắc
đến mùi ê te, mùi vi khuẩn chết...khi viết về Bóng chữ hoặc ám chỉ
nó; thực là vô lương tâm nghề nghiệp và non nớt về nhận thức. Về câu của Tô
Hoài, thì ông quên rằng nhà thơ học chữ khác với kiểu học chữ (tiếng nói,
cách nói của các loại người) của nhà văn; còn câu của Vũ Quần Phương thì ông
quên mất rằng mọi giá trị của Y khoa đều tiên khởi từ phòng thí nghiệm,
nhưng quan trọng hơn, nhà thơ đã quên rằng ca dao, dân ca (mà tôi gọi là văn
hoá vỡ lòng của dân tộc) và văn hoá cổ điển cũng có đời sống tự thân của nó,
chứ không hề còn là phòng thí nghiệm. Lê Đạt đã tái sinh văn hoá cổ điển, để
Nghuyễn Du chẳng hạn chợt ngẩn ngơ trước mùi bồ kết cùng thời với chúng ta.
Vả lại, những chữ của câu thơ Phố thi thì con gái thì học ở đâu?
Học ở đâu những chữ này nữa:
Cột đèn rớm điện
Là chiều Bích Câu
Rằng tiên xuống trần
Rằng ta gặp nhau (Chiều Bích Câu)
Học chữ của vỉa hè nhưng Lê Đạt học cái tinh tuý của nó, nhất là những
tiếng nói tắt khá tuỳ tiện để sự vật bật lên khỏi ngữ cảnh, kiểu người ta
bỏ làm trong máy lạnh, bỏ gắn trong xe máy; ông
đã bỏ gà trống trong con thiến:
Ai xui em đẹp em xinh
Ba lần con thiến gáy
Một nhà thơ chê chữ con thiến có nghĩa tục, không biết tục ở
chỗ nào trong cái ngữ cảnh chủ yếu về nỗi đau? Mặt khác, câu thơ gợi ra thềm
văn hoá của nó, Đức Chúa nói: “Trước khi gà gáy trong số các con có người
phản bội ta.” Và như thế, câu thơ trên có nghĩa là, em xinh quá, nên dẫu đã
bị thiến, con gà trống thiến rồi cũng cất tiếng...gáy! mà gáy những ba lần.
Nhưng, hỡi ôi, con thiến gáy! ở bài Thanh minh, chữ bát phố (đi chơi
phố) được dùng thành bát mộ cũng đã bật lên sức mạnh không ngờ của sức sống
mùa xuân, của sức chữ:
Hương thắp gọi ba lần
không đáp lửa
Hồn có nhà
hay bát mộ đi xanh
Nhiều khi Lê Đạt sử dụng lối nói lái dân gian, lối đảo chữ, nhại chữ
cố tình dùng lại sự đồng vọng của chữ tạo cộng hưởng và sức lan toả cho tứ
thơ:
Hay em biến trong gương
một người giống em
trở lại
Má má môi
mà mỗi mãi xa ( Gương)
Hoặc như trong câu thơ sau, do nói trại từ đồng trinh ra đồng tranh, ta
bỗng có một bức tranh mục đồng thật sống động và nhiều vô kể:
Ngò trắng ổ hoa vườn trứng cuốc
Tù và ngà ai ọ nghé đồng tranh ( Tù và)
Thơ Lê Đạt, nhất là ở những bài thành quen thuộc với nhiều chủng loại bạn
đọc như Quan họ, Bóng chữ, Mùi sầu riêng, Tìm em, Hoa mười giờ...dường
như mỗi chữ đều rất lẳng lơ, đôi khi là lẳng lơ tinh nghịch, rất gian díu
những chữ cạnh nó, đôi khi cũng ở xa nó, chữ ngõ này ghẹo chữ ngõ kia; tạo
cho bài thơ vốn rất ít chữ một độ vang vọng thật đằm thắm, thật dào dạt. Ông
cũng đạt được hiệu ứng như vậy những khi đặt cạnh nhau các chữ vốn xa nhau,
ngược nghĩa nhau:
Sớm hạ búp sen đôi gió
Sóng đòng buồm nhấp nhô thơm
Tóc liễu trường tân thơ cổ
Trời xanh côban rất đường ( Vào hè)
Hay như:
Nhận ra tôi
chỉ gốc cây gạo cụt
Tạm ứng nửa trời hoa trước đón nhau (Thủa xanh hai)
Có thể nói tôi đã hơi nhiều lời nhưng chưa thể thống kê hết những thao
tác làm nên cách thơ Lê Đạt. Và sẽ là kẻ theo chủ nghĩa hình thức muộn mằn
nếu tôi còn chưa nói tới điệu tâm hồn Lê Đạt- cái đã chi phối cách thơ ông.
Sau những hăng hái thái quá hồi còn trẻ, ông mắc bẫy của chính mình, Lê Đạt
dần dà chín chắn hơn, chừng mực hơn - đó là tính cách của người văn minh
trong xã hội văn minh. Sự chừng mực giữa trí tuệ và cảm xúc, giữa nghiệm
sinh và mê đắm tình yêu lứa đôi vốn là phía khác của hồn thiêng nước Việt
thủa thanh bình. Lê Đạt có buồn, cũng chỉ dám buồn đến độ, rồi làm nó mênh
mang đi:
Con trống mèo đen ăn thịt
Con mái vào ra một mình
Ấp lạnh bóng trăng rồi chết
Vàng hồ bay
thư không người nhận
gió trả về
( Thư không người
nhận)
rồi làm nó lặn đi như là một ứng xử lịch lãm:
Chiều xểnh đàn
em chẳng gọi tên anh
Đấy vô tình
nên đây hoá vô danh ( Tù và)
Điệu tâm hồn Lê Đạt khác hẳn nỗi buồn tê tái của thi nhân thời thuộc địa,
nỗi đau xé ngực của lời ca thời kháng chiến. Ông như kẻ đơn độc ngoài vỉa
hè, nhà của ông từ lâu đã được đăng ký trong thơ: 9 phố Lãn Ông, nhưng ở đó
ngày ngày bà niệm Phật nếu không đi chùa, các con ông bán khăn giấy vệ sinh,
ông thu mình trong gác xép, viết trên thùng hàng úp sấp, bê xếp hàng họ mỗi
khi cần một chỗ cho bạn bè. Có thể nói ông luôn vắng mặt ở nơi ông hiện
diện, nhưng suy cho cùng, có nhà thơ chuyên nghiệp nào lại có mặt ở mọi lúc
mọi nơi?
Với một ghi chú phòng xa và với hệ thống thao tác kể trên, giờ đây chúng
ta cùng đọc lại chùm thơ dài, bị kêu là khó hiểu, là tắc tị; chùm thơ có tên
chung: Lão núi.
Lão núi được viết đầu những năm 1960, trên cái chõng tre của nhà cụ Lê,
hợp tác xã Hà Biên, xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, Phú Thọ. Cụ là một phó cả
vốn người Hà Nam, tỉnh kết nghĩa với Biên Hoà, nên người ta lập ở quê mới
một HTX có tên như vậy. Tôi hiếu kỳ nên có lân la đòi xem bản thảo, hồi ấy
cách thơ Lê Đạt chưa định hình hẳn, kiểu tranh siêu thực chưa cả quyết của
các hoạ sĩ ta vẽ tranh chờ bán cho Tây ba lô giờ đây.
Ông phó cả ngựa viết về người thợ mộc tài hoa, nhân những gốc cành
gỗ vứt ở rệ rừng, đã nhặt về đẽo gọt làm ngựa cho trẻ con chơi ở nhà trẻ hợp
tác. Vì cụ rất tài hoa:
Bậc phó cả
dễ ít nhiều
tạo hoá
nên đàn ngựa gỗ đã có hồn:
Lũ vật lớn bốc
một đàn lốc nhốc
guốc khua cốc cốc
sơn bốn chân thò mộc
lộc ngộc
ngựa quần cộc
ơi cái dậy thì của gỗ!
Và phải chăng do có hồn, do bị thang ghếch bỏ quên, thông đồng trời
nên ngựa gỗ lù đù đã đập cánh viễn du? Hay đây là khát vọng của nhà thơ,
muốn rằng chữ thơ đắc địa, buông bút là chúng sống cuộc đời độc lập của
mình, ngoài ý muốn của ngay cả với người vừa sinh hạ ra chúng? Tôi không dám
chắc. Nhưng tôi chắc rằng, ở những câu thơ có hàm lượng thi sĩ đậm đặc này
không có bọn trộm đạo như Trần Mạnh Hảo nhìn gà hoá cuốc bảo có mặt chúng,
nói chung, nhiều bài viết của Trần thi sĩ là xuyên tạc làm méo người khác
nhưng ở chỗ này ông còn bầy tỏ trình độ thẩm thơ của mình. Hàm lượng thi sĩ
còn tự phá vỡ sự chừng mực con người Lê Đạt, sự bất lực thì đúng hơn, trước
một cảm xúc không sao cưỡng nổi:
Có phải đời ngựa rồi
cây vẫn nỗi niềm
hoàng hôn tha thiết xanh
Nhưng trật tự của chừng mực liền đó đã trở lại:
Ngựa lên mấy
mà nghìn tuổi cây
mà một tiểu sử người
Thắm lại, gửi trao, dâng hiến cho đám trẻ con buồn vui cả một kiếp
người; cụ đã gửi vào vân tâm cây, vào ngựa gỗ:
Cụ phó sinh năm Bính Ngọ
Hai bên lại có tin tìm hiểu
Bà kể chuyện dân gian
mọc mộng
bằng tuổi nước
Nhưng mùa xuân đã đến. Tuổi trẻ đã đến. Chúng nhảy phốc lên những
long, những ly, thì sư thì hổ, rất mực tung hoành Xích Thố; để lại, cho dù
tác giả ngựa đang mải đâu:
Hay ông già bất giác
Sự ngựa
Ga Kỳ Lừa nào
Nhịp thơ trở nên tung hoành. Bài thơ đã sống cuộc đời của riêng nó.
Nhà thơ- ông phó cả chỉ còn như kẻ ghé xem nhờ, dù vẫn chưa dứt khỏi tâm thế
chia tay những con chữ- ngựa gỗ:
Nhất thanh thản vẫn là món trẻ
phốc tốc luôn mình ngựa
Giật cương
Nhong nhong cắt cỏ Bồ Đề
xứ xứ đồng chiêm nước bạc
đại lộ rừng chưa kịp tên
Đó là cách tôi hiểu Ông phó cả ngựa - phó cả chữ. Bạn không
nhất thiết phải tin tôi. Bạn có thể coi đây là bài đồng dao về lòng yêu trẻ
của một ông già không may mắn (lấy đâu ra may mắn cho người tuổi Bính Ngọ?)
và không còn trẻ nữa nhưng đã cứ trẻ lại. Lỗi không tại ông già. Lỗi ở mùa
xuân.
Tôi cũng xin dùng lại mấy câu kết thúc bài Ông phó cả ngựa để mở
đầu về Ông cụ chăn dê - một bài thơ đã đến được gần đỉnh hoang vu,
cõi chưa biết của thơ:
Thuở ông già nhập núi
Gió cửa rừng vơi lạnh
ơi! cái hơi người
Nơi có thể châm thuốc Mán trong cái tẩu gỗ sâng vào lửa của một mảnh tinh
thể lạc trời:
Ông rít hơi dài
đàn dê bỏm bẻm trăng
Nơi ấy, đã đến nước này, thì mấy chú dê tân tất trắng chợt có thành
cháu của cụ, thì ta không lạ lùng lắm:
Ông vuốt râu cháu nhỏ
đứa ông đón tay hạt muối
Bầy chiên lành cỏ mộng
Luân mùa đất hẹn
chăn đàn râu nắng
Ông là ông cụ chăn dê
cũng không lạ lắm khi thấy sự bất thường, sự mới lại tuổi, xuân lại
tuổi ở ông già lụ khụ vào lúc xuân về:
đất lòng nửa năm tu ngủ
hé him mắt
ngáp cái xuân khởi động…
Bụng mầm xoan ba tháng
Rừng động xanh
Ai đừng được xuân
Phải, ai đừng được xuân khi mà:
Trời ghẹ xanh
Yếm trúc mẩy măng đôi núm sừng bò
khi mà đến gốc lim già sét đánh đã mười năm cũng chợt ngó ngoáy chồi tơ
trái đào. Có thể nói, đàn dê, mùa xuân và ông cứ say nghiêng say ngửa, đến
mức nghiêng bình toong ngựa Hàm Rồng (mà) khà thôi nước luộc và mặc kệ cho
tóc vòm lơ đãng trắng; vâng, say và ú ớ và nhầm lẫn mùa xuân... mùa xuân gạo
nở, đến độ trẻ con: một ông già trẻ cứ hét tướng chào bác để nghe tiếng của
chính mình do núi vọng về. Và bài thơ dung dị về kết với tuyệt đỉnh lãng
mạn:
Dân bản xì xào
Như đỉnh núi ít lâu nay nhô cao
Các cụ rằng
Sách chép âm dương vận hành
Trăm linh xuân
lần đá lẻ
điềm Đại mùa
chòm
núi hình sương sớm ông cụ chăn dê
Người ta gọi chòm núi
Ông cụ chăn dê
Ta thấy mùa xuân suốt bài động đậy, tinh nghịch như dê- dê trong ý nghĩa sức
khoẻ lại là đồng nghĩa với sức xuân- lúc này tất cả đều lắng xuống, chỉ còn
hình ông cụ cắt dán vào nền trời. Tôi có thể hiểu ông cụ chăn dê ấy là ông
cụ chăn thời gian? là ông cụ chăn mùa xuân? ông cụ chăn chữ? Buông bài thơ,
tôi còn nhặt thêm một cách nữa của cách thơ Lê Đạt. Chỉ trong hai câu cuối,
câu trên là tả thực, câu dưới đã vụt bay sang bờ kia huyền thoại, dù rằng nó
dường như chỉ lặp lại câu trên.
Khác với hai bài cùng chùm Lão núi, tạo đồ chơi trẻ con rồi chính
mình hoá trẻ, chăn mùa xuân để chính mình lẫn mùa xuân, Ông cụ nguồn được
kể chăm chút hơn, yêu trọng hơn. Nhịp thơ đi cũng từ tốn, trang trọng, có
tiên phong đạo cốt:
Dắt ông cháu tiều lích chích trái đồng
Khăn gói mấy lần cổ tích
Thi điệu, cách thơ hợp với công việc hệ trọng bậc nhất của một cộng
đồng: Việc tìm ra nguồn nước cho sinh sôi, sinh sống, cho Người thâm canh
sống; tìm ra cội nguồn. Nhân vật ấy nói: các cháu đừng buông tuồng nước. Và
đi:
Hai ông cháu tung tăng huyền thoại
trường kỳ hỏi nước
tìm nguồn
...
Tay lần mạch đất
như người lần mạch chữ
vượt biên thuỳ cõi biết
Nghiêm túc và thành khẩn như mọi sự tìm muốn thế, buộc thế. Ông cụ
ngược cao, nơi mái tóc trắng lẫn vào hoa mai rừng. Vì thành khẩn, ông cụ
Nguồn đã nghe được tiếng nước tâm sự đáy, vượt được biên thuỳ cõi biết, và
quả nhiên, khi anh kỹ thuật đo được 19 m 80 chiều sâu lòng giếng:
Thì reo
Rồi sôi ùng ục
Rễ nước đại thụ
từ sơ địa
mịt mù dã sử
phun sáng ngần
Đêm pháo hoa mừng tuổi nước
Nhưng chợt nguồn đã không còn chỉ là nguồn nước nữa, bởi ngay sau đó:
Một ngôi sao mới lớn
Mải gương mơ kỳ thi hoa hậu
vô ý tùm giếng
(...) niềm trần
lấp lánh
Một chút tham dự của trí tuệ người đọc vào thơ Lê Đạt lúc nào cũng
rộng lòng, ta có thể, nói như Nguyễn Quân, “tự tiện nói rằng nguồn nước còn
hàm nghĩa sức trẻ với tất cả sự vụng về, sự vô ý của nó”. Và đây kia một
thâm canh sống, một tình yêu đến bên nguồn nước để nguồn nước thêm đầy nghĩa
nguồn nước:
Giếng cắn chỉ hai mươi thước nước
gầu xuân
em múc mắt giăng thề
Bài thơ mở đầu:
Ông cụ quê đâu
tên gì
Quen miệng...ông cụ Nguồn
Và được kết thúc:
Rồi nhiều năm
vùng rừng không thấy cụ xuất hiện
chừng ông cụ về nguồn
để mở ra một câu hỏi: suốt bài thơ là kể về việc ông cụ tìm ra
nguồn, tìm thấy rồi, lại về nguồn, vậy ra nguồn là bất tận cao xa, hơn cả
Tiên Phật mà hình tượng thơ hoặc ẩn dụ hoặc khơi gợi liên tưởng?
Vâng, tôi đã đọc Lão núi hơn 30 + 1 năm để rồi còn lại một câu
hỏi. Tôi để chùm thơ và câu hỏi đấy, đi vào cuộc sống. Một năm với bao kiếm
tìm, nhiều cái tưởng với được mà khều mãi vẫn tay không. Ngó kỹ vào cuộc
tranh luận thơ, vẫn không thấy đâu là truyền thống thơ Việt. Thế rồi thỉnh
thoảng tôi cứ thả lòng cùng Bóng chữ thấy nhiều câu thật hoang vu,
thơ dại, cứ ngâm ngợi mãi để tâm hồn không phải nghĩ ngợi gì, nhẹ nhõm như
chơi với con trẻ. Lại bật lên một thắc mắc: Sao ông tự nhận là phu chữ. Và
tôi thức ngộ: Nhà thơ là kẻ luôn có nghìn tuổi văn hoá trên vai, nhưng cái
mà bạn đọc thơ cần là cái nghìn tuổi thơ dại hoang vu; chỉ có nghìn tuổi văn
hoá thì anh không bằng nhà sử học, chỉ có nghìn tuổi thơ dại, anh không bằng
chính anh hồi chưa biết chữ. Với khoảng hơn mười bài thơ hay, Lê Đạt đến
được cái hồn nhiên của nghìn tuổi văn hoá. Nghĩ thế, lòng bỗng ơ -rê - ca
lên rằng: Truyền thống - bản sắc văn hoá, nguồn thơ Việt... mãi mãi cần
nghiêm túc và thành khẩn tìm mạch, khơi nguồn; cần liên tục bổ sung và nạo
vét để những khái niệm không nằm trong chủng viện (hay nói như Vũ Quần
Phương, trong phòng thí nghiệm), mà giàu có lên mãi, phì nhiêu mãi lên nơi
những đỉnh hoang vu mà Lão núi là một.
Nhưng tất cả mới là giả định của riêng tôi, tin hay không tuỳ thuộc ở
bạn; như giờ đây thuyết bất định lượng tử đang buộc cuộc sống phải thừa nhận
dù anh có tin nó hay không, còn con người thì vẫn tiếp tục khai quật để gọi
đích danh cái ngã ba không gian và thời gian- nơi con người là Con Người dù
tôi và bạn vẫn tin vào Darwin vĩ đại. Như thế để tôi yên tâm nói rằng, bằng Bóng
chữ, Lê Đạt đã dứt khoát chia tay với thi pháp của bốn giai đoạn thơ
hiện đại, như ông đã thẳng thừng từ chối mọi thứ hàng thùng, SIDA của các
trào lưu thơ cuối mùa của thế giới. Ông đã kiêu hãnh một cách khiêm nhường
tạo cho mình một cách thơ riêng. Ông không di thực, ông đào xới cả văn hoá
trầm tích lẫn hiện sinh vỉa hè đất Việt để gieo tiếng Việt rồi chờ một mùa
thơ như gã nông phu chờ mùa, trong nhiều bất trắc bão gió nắng mưa.
Hà Nội, ngày 7- 5- 1995
|
|
|
BÓNG CHỮ HAY BÓNG EM
BÓNG CHỮ
Chia xa rồi anh mới thấy em
Như một thời thơ thiếu nhỏ
Em về trắng đầy cong khung nhớ
Mưa mấy mùa
mây mấy độ thu
Vườn thức một mùi hoa đi vắng
Em vẫn đây mà em ở đâu
Chiều Âu Lâu
bóng chữ động chân cầu.
Lê Đạt
“Bóng chữ” là
một bài thơ hay của nhà thơ Lê Đạt (được lấy làm tên cho cả tập thơ)
thể hiện được tình cảm tinh tế cũng như phong cách nghệ thuật tài hoa
của ông. Đọc kỹ bài thơ ta không chỉ cảm thấy cảm xúc thẩm mỹ tinh tế mà còn là
thông điệp đầy ẩn ý của nhà thơ nằm sau con chữ sáng tạo.
Bài thơ “Bóng chữ” có
hai “trường” nghĩa đen và bóng.
Nghĩa cụ thể, nghĩa đen nói về tình yêu, nghĩa bóng ẩn dụ nói về
chữ nghĩa của việc sáng tạo nghệ thuật. Chính hai “trường” nghĩa lẫn
vào nhau làm bài thơ có “trạng thái nhập nhoà và cạm bẫy của con
chữ” (Thuỵ Khê). Bài thơ
hay, hấp dẫn độc giả một cách lạ kỳ nhờ cấu tứ độc đáo bằng lối sử
dụng “ẩn dụ kép” về các khái niệm Chữ
và Em. Chữ có
thể là con chữ nhưng
cũng có thể là em , bóng chữ còn
có nghĩa là bóng em. Cái
tên bài thơ, và hình ảnh“bóng chữ lay động chân cầu” cuối bài
càng nói rõ điều đó. Em gắn
với kỷ niệm tình yêu tha thiết. Chữ gắn
với công việc sáng tạo kỳ thú của nhà thơ. Em thực thể không có trong
bài thơ ( em ở đâu) mà chỉ
là cái bóng ma mị (em vẫn đây), nhưng chính bóng
em về trong kỷ niệm làm lay
động tác giả và cũng chính cái bóng
chữ ở sau các con chữ mới
tạo cảm xúc nơi độc giả!
Câu thơ “Em về trắng đầy cong khung nhớ” theo
tôi là câu thơ hay nhất bài. Nó không gợi dục theo kiếu phồn thực Xuân
Hương dẫu có các hình ảnh trắng,
đầy, cong khêu gợi cảm giác và cũng không lãng mạn kiểu cổ điển
“ánh trăng nơi khung cửa sổ”... Câu thơ đánh thức trí tưởng
tượng người đọc bởi cái vẻ siêu thực của nó. Hư ảo bên ngoài trộn lẫn
mộng tưởng bên trong. Cái bóng em hiện về theo kỷ niệm: áo trắng thanh
tân với những đường cong đầy đặn thanh xuân đứng che khung cửa như còn
in hình… Em giờ vắng xa nhưng mùi hương vẫn lẩn quất trong vườn. Câu thơ
đầy ắp ấn tượng mà trong trẻo đến vô cùng!
Cái sâu kín, sự gửi gắm không kém phần quan trọng, nếu không nói quan
trọng nhất (nếu liên hệ tên tập thơ) - bài thơ lấy tình yêu để nói về
chuyện chữ nghĩa trong công việc sáng tạo của người nghệ sĩ. Sự xúc
cảm của tác giả trong bài thơ là xúc cảm bởi bóng em, kỷ niệm về em
chứ không phải em trước mặt (chia
xa rồi mới thấy em,... em ở đâu...) Bóng em - kỷ niệm về em làm
tác giả dấy lên bao xúc động, cũng như bóng
chữ - cái hồn cốt đằng sau con chữ mới
tạo nên giá trị đích thực câu thơ, tạo được cái bóng đó của chữ là
bản chất, là tinh hoa công việc sáng tạo của nhà thơ. Bởi thế mới Chiều
Âu Lâu / bóng chữ động chân cầu. Câu
thơ kết lại bằng cái ẩn dụ bóng
chữ lay động không gian
sáng tạo của tác giả, chứ không chỉ là bóng
em và chỉ tình yêu thôi vậy.
-------------thS Trần Thị Anh Thư---------------
1.Thụy Khê. Cấu trúc Thơ-XV.Thơ tạo
sinhLê Đạt in ở Tạp chí Thơ 04-2009
2. Báo Văn Nghệ -số15-2010
Phạm Đức Nhì : THỂ THƠ LÀM NÊN KHÁC BIỆT
Phạm Đức Nhì
Dòng Cảm Xúc – Tranh : Trần Thanh Châu
Lê Đạt và Tô Thùy Yên là hai tài năng thơ đặc biệt của Văn Học Việt Nam.
Khi đất nước chia đôi năm 1954, Lê Đạt ở miền bắc. Từ những năm 50 ông đã nỗ lực
thay đổi bộ mặt của hình thức thơ. Về nội dung, ông tham gia phong trào Nhân Văn
Giai Phẩm, đứng về phía nhân dân chĩa mũi dùi vào những bất công, bất cập của
chế độ. Bài thơ Nhân Câu Chuyện Mấy Người Tự Tử được nhiều người biết đến và
một thời đã gây xao động văn đàn miền bắc.Tô Thùy Yên ở miền nam. Cũng vào những
năm cuối thập niên 50 ông nằm trong nhóm Sáng Tạo, tìm một hướng đi mới cho thơ
ca và văn học miền nam. Sau năm 1975, ông bị đi cải tạo 10 năm. Được thả, ông
sáng tác bài Ta Về được rất nhiều người tìm đọc và khen ngợi.
Hai bài thơ của hai tài năng thơ ca này có điểm giống nhau là đều khá dài nhưng
lại khác nhau về mặt hình thức. Tôi có ý định đem hai bài thơ đặt bên nhau để
xem sự khác biệt về hình thức có ảnh hưởng ra sao đối với giá trị nghệ thuật của
bài thơ.
Ta Về của Tô Thùy Yên là bài thơ được rất nhiều người Việt tỵ nạn biết đến và
tìm đọc. Chỉ riêng trên dactrung.net đã
có trên 44,000 lượt người truy cập. Có nhiều người trích dẫn, nhiều lời ngợi
khen. Và cũng có một số ít người tỏ ý thất vọng vì bài thơ tuy hay đấy, nhưng
không xứng đáng với tầm vóc của nhà thơ mà cuối thập niên 50, đầu thập niên 60
đã nằm trong nhóm Sáng Tạo, tiên phong khai phá một con đường mới, một hướng đi
mới cho thi ca và văn học Việt Nam. Tuy nhiên ít ai đưa ra lý do xác đáng để
biện minh cho lời ngợi khen hay nỗi thất vọng của họ.
Tô Thùy Yên qua Ta Về, viết khoảng năm 1985, 1986, đã chọn phương thức nói
thẳng điều muốn nói – tâm trạng ngổn ngang trăm mối của một người được thả về
sau 10 năm gian khổ, đọa đày trong nhà tù cộng sản. Ở đây tứ thơ và ý thơ là
một.
Về hình thức, bài thơ gồm 124 câu, chia làm 31 đoạn. Mỗi đoạn gồm 4 câu, mỗi câu
7 chữ, có thể đứng độc lập như một bài thơ hoàn chỉnh, diễn tả một mảnh tâm
trạng của tác giả.Tuyệt đại đa số các đoạn thơ (30 đoạn) được gieo cước vận
bằng, gián cách ở câu 2 và câu 4. Nghĩa là chữ cuối câu 2 và chữ cuối câu 4 đều
ở vần bằng và hiệp vận với nhau. Chữ cuối câu 1 và chữ cuối câu 3 ở vần trắc và
thường không hiệp vận.
Thí dụ:
Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay
Chỉ có một đoạn gieo vần bằng, liên tiếp:
Cây bưởi xưa còn nhớ, trắng hoa
Đêm chưa khuya quá hỡi trăng tà
Tình xưa như tuổi già không ngủ
Thức trọn khua từng nỗi xót xa
Còn 4 cách gieo vần khác :
Vần trắc, liên tiếp,
Vần trắc, gián cách
Vần bằng, ôm nhau
Vần trắc, ôm nhau
đều không được xử dụng.
Chính vì chỉ có hầu như một cách gieo vần nên “hội chứng nhàm chán vần” trong
bài thơ rất nặng nề, rõ nét. Nhạc điệu các đoạn đều na ná giống nhau. Cố gắng
lắm đọc đến đoạn thứ 10 là đã cảm thấy chán, mắt đã muốn nhíu lại. Trong mỗi
đoạn thơ người đọc đều cảm thấy hơi nóng của cảm xúc nhưng vì không được liên
kết, nối tiếp nhau, nên ở cuối bài không có sức nóng tổng hợp. Hạc Bút Ông trong
phần đầu của bài Ta Về, Thơ Tô Thùy Yên đăng trên trang Thơ Hà Huyền Chi đã
viết: “Ta Về, 124 giòng cuồng lưu, chảy miết trong thơ.” Ý Hạc Bút Ông muốn nói:
“Ta Về, 124 dòng cảm xúc mạnh của tác giả, chảy miết trong thơ.” Tôi lại không
nghĩ như thế. Ta Về có 31 đoạn, 124 câu; mỗi đoạn là một ý thơ (hoặc tứ thơ)
hoàn chỉnh, diễn tả một mảnh tâm trạng của tác giả, tạo ra và chuyển tải một
khối lượng cảm xúc đến đọc giả. Còn câu (line) chưa phải là một đơn vị chuyển
tải cảm xúc nên không thể là một dòng cuồng lưu được. Hơn nữa, do đặc tính của
thể thơ, trong Ta
Về không có dòng
cảm xúc. Với tài năng xử dụng ngôn từ điệu nghệ, tạo được nhiều
hình ảnh đẹp, sống động, Tô Thùy Yên đã bơm vào mỗi đoạn thơ, và qua thơ, đến
đọc giả một khối lượng cảm xúc đáng kể. Nhưng cảm xúc được tạo ra ở đâu chỉ nằm
yên ở đó – cuồn cuộn quanh quẩn trong cái hố, cái vũng của mình. Không có con
kênh nối liền các hố, các vũng với nhau, và do đó, không có dòng cảm xúc, không
có dòng chảy của thơ.
Nét độc đáo trong Ta Về của Tô Thùy Yên là ngôn
từ và hình
ảnh. Tôi xin trích một số đoạn trong bài viết mà ở đó, Hạc Bút
Ông đã bình chú khá kỹ lưỡng, đầy đủ, về cái hay, cái đẹp, nét sáng tạo của ngôn
ngữ thơ Tô Thùy Yên, để phần nào giải thích lý do tại sao rất nhiều người trong
giới văn chương đã đem lòng yêu mến bài Ta Về một cách say đắm.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
“ Ta về một
bóng trên
đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm
phế phủ
Mười năm đá cũng
ngậm ngùi thay.
Ta trở về, một mình, cô đơn thế đó. Sông và núi cũng nát lòng. “Mềm phế
phủ” là ngôn ngữ thơ đầy sáng tạo thường thấy ở Tô Thuỳ Yên. Vần “thay”
tuyệt đẹp như một dấu hỏi và dấu than, dấy mãi lên những vang vọng, cháy
lòng.
Vĩnh biệt ta mười
năm chết
dấp
Chốn rừng thiêng im
tiếng nghìn
thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hoá thân thành vượn
cổ sơ.
Ta 10 năm im lìm như thảo mộc, muông thú, chốn rừng già ngàn tuổi. Ta
sống mà đã chết. Chết dấp. Thanh gỗ tầm thường thô sảm trong tay hảo
kiếm thủ đã đánh ra những chiêu thức phi thường. Chữ đắc vị, chói sáng
hào quang thế đó, đã trải suốt Ta Về như một hịch truyền. Vần điệu tuyệt
vời, dù thơ họ Tô ít chú trọng đến yêu vận, cước vận. Nhiều chỗ vần lơi
mà vẫn khít khao như giữa “im tiếng ngàn thu” và “vượn cổ sơ.”
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi.
Có lẽ đây là đoạn thơ toàn bích nhất trong bài. Nó mở ra những góc nhìn
khác ,như một chuyển bước, lật qua những trang tận tuyệt. Ta cúi đầu để
tạ ơn, để cười với nghịch cảnh, cũng để tìm lại cái ta đã chết dấp 10
năm. Thơ ánh lên niềm vui giả tưởng giữa gai buồn.
Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa
đá
đã qua sông
Ngừơi đi như cá
theo con nước
Trống ngũ
liên nôn
nả gióng
mừng.
Tưởng tượng thôi, quê ta đang vào mùa nước nổi, người người tiếp nhau
tràn lên cứu nguy tổ quốc. Trống ngũ liên chỉ gióng lên khi thúc quân,
thúc đô vật,và thúc tráng đinh hộ đê. Vui biết mấy, nhưng chỉ là vui
giây lát thôi. Trong mộng tưởng.
Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm
tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho
cuộc biển dâu này.
Thơ tuyệt vời ở ngôn ngữ và hình ảnh. Thơ chuyển mạch quá nhanh khiến ta
rơi vào chân không. Ta vừa muốn rửa hờn,vừa muốn yên thân, tha hoá được
sao?
Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi
Hãy kể lại mười năm truyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi.
Hai câu trên là sấm nổ, hịch truyền. Hai câu dưới nhẹ thếch tan loãng
vào cõi yếm nhược, phủi tay.
Ta gọi thời gian sau
cánh cửa
Nỗi mừng giàn
giụa mắt ai sâu
Ta nghe như máu ân tình chảy.
Tự kiếp xưa nào tưởng lạc nhau.
Ta về dầu
phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Ðau khổ riêng
gì nơi gió cát
Thềm nhà bụi
chuối thức thâu
đêm.
Cây bưởi xưa còn nhớ, trắng hoa
Ðêm chưa khuya quá, hỡi trăng tà
Tình xưa như tuổi già không ngủ
Thức trọn, khua từng
nỗi xót xa.
Có thể nói rằng Tô Thuỳ Yên là phù thuỷ của ngôn ngữ thơ. Chữ mang bùa
ngải ở “sau cánh cửa”,”mắt ai sâu”, “riêng gì”, “bụi chuối thức”,”khua”.
Nhưng có lẽ anh hơi tham lam, chỉ vì một chữ “khua” mà giữ lại nguyên
đoạn thơ trùng dụng cả y’ , từ, lẫn hình ảnh ở mấy đoạn trên. Có đáng
không?
Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời
gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà
thương từng phế
liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh.
Thêm một tuyệt chiêu của Tô Thuỳ Yên. Chỉ tiếc là “Lục lại thời gian
kiếm chính mình” là một lập lại của tứ thơ đã dùng: “Ta gọi thời gian
sau cánh cửa” nơi đoạn 22.
HẠC BÚT ÔNG
30-12-93 |
|
|
|
|
Không còn nghi ngờ gì nữa, ngôn từ thơ Tô Thùy Yên như một phụ nữ đẹp lộng
lẫy, sang trọng, quý phái, cư xử lịch sự, ý tứ, đúng phép tắc. Bài thơ có
rất nhiều hình ảnh đẹp. Mỗi đoạn – như một bài thơ riêng biệt - đều có một
hoặc hai bức tranh sinh động chắp cánh cho trí tưởng tượng của người đọc bay
cao, bay xa. Tiếc thay, do cấu trúc của thể thơ, các đoạn đứng riêng lẻ, độc
lập, chứ không nối kết với nhau thành một khối nên cảm xúc ở cuối bài không
có sức mạnh tổng hợp. |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Nhân Câu Chuyện Mấy Người Tự Tử được Lê Đạt viết năm 1956, lúc nhà thơ mới 26
tuổi. Vào thời điểm này đất nước đã bị chia cắt. Gần 2 triệu người miền bắc di
cư vào nam đã dần dần ổn định cuộc sống dưới chính quyền của ông Ngô Đình Diệm.
Phía bắc sông Bến Hải, dưới sự lãnh đạo của ông Hồ Chí Minh và đảng Lao Động
(tiền thân của đảng Cộng Sản Việt Nam), đã từng bước xây dựng hạ tầng cơ sở của
xã hội chủ nghĩa. Về mặt xã hội, cuộc đấu tranh giai cấp đã đến hồi quyết liệt.
Trai gái yêu nhau muốn tiến đến hôn nhân phải chọn người cùng thành phần, giai
cấp, phải theo đúng luồng, đúng tuyến. Những mối tình “liên giai cấp”, “vượt
giai cấp” thường bị can thiệp, ngăn cản một cách thô bạo bởi áp lực của chính
quyền, đoàn thể, gia đình. Với tấm lòng nhân ái, với hùng khí của tuổi thanh
niên, Lê Đạt đã “Nhân Câu Chuyện Mấy Người Tự Tử” múa bút vào vùng đất nhạy cảm
này:
“Người công an đứng ngã tư đường phố
chỉ huy bên trái
bên phải
xe chạy
xe dừng
rất cần cho việc giao thông
nhưng đem bục công an
máy móc đặt giữa tim người
bắt tình cảm ngược xuôi
theo đúng luật đi đường nhà nước
có thể gây rất nhiều chua xót
ngoài đời.”
Lê Đạt nhân danh kẻ sĩ, thấy việc bất bình, lên tiếng “phù thế giáo một vài câu
thanh nghị” (Kẻ Sĩ, Nguyễn Công Trứ). Khác với Tô Thùy Yên, Lê Đạt biết mình nói
những điều hợp đạo lý, bảo vệ lẽ phải nhưng vẫn mang tâm trạng sợ sệt cường
quyền. Ông biết ngòi bút mình đang ngọ nguậy trong một xã hội mà tự do tư tưởng,
tự do báo chí, tự do sáng tác phải nhường bước trước những chủ trương chính sách
của đảng và nhà nước. Để nói lên những điều đáng nói ở trên, ông đã phải rào
trước đón sau, che trên chắn dưới kỹ lưỡng, đôi khi đã phải viết mấy câu không
đúng lòng mình, khen chế độ:
“Thôn xóm tan dần bóng đen địa chủ
Cuộc đời như ánh trăng mỗi ngày một tỏ
Sáng bừng lên
trong những chiếc hôn đầu
Chế độ ta không cấm họ yêu nhau
Mà sao họ chết?”
Nhưng ở phần cuối bài thơ, lòng thương yêu, nỗi tức giận, đã thắng sự sợ sệt.
Nhà thơ hét toáng lên:
“Giữa năm Cộng Hòa lớn khôn mười một tuổi
Vẫn còn lọt lưới
nhiều thói “An Nam”
Dán nhãn hiệu “Made in Cách Mạng”
Ngang nhiên xúc phạm con người
Đẩy họ đi tự tử.”
Ông chỉ dám nói “lọt lưới nhiều thói An
Nam ” nhưng thật ra ở đây
không phải là sai phạm của một vài cá nhân riêng lẻ mà là sai lầm của một trong
những nội dung chính trong chủ nghĩa cộng sản, một trong vài chính sách lớn của
đảng và nhà nước lúc bấy giờ: đấu tranh giai cấp.
Bởi vậy, không lạ gì khi bài thơ vừa được phổ biến đã bị một số người chỉ trích
nặng nề:
“
Hết chuyện rồi sao
mà lại đẽo đến chuyện người tự tử
ngậm mực phun đen chế độ”
khiến ông phải vội vã viết thêm một đoạn 52 câu để chữa cháy, biện minh.
Về mặt hình thức, bài thơ Nhân Câu Chuyện Mấy Người Tự Tử gồm 127 câu ( theo
cách đếm câu của người viết bài này)- không kể đoạn viết thêm 52 câu – viết theo
lối thơ mới biến thể. Số chữ trong câu nhiều, ít tùy hứng. Vần gieo liên tiếp,
nhưng những lúc cần tác giả sẵn sàng bỏ vần để khơi rộng dòng chảy của cảm xúc.
Thêm vào đó, những câu chuyển ý, chuyển đoạn thường thoát vận nên bài thơ tuy
dài, đọc giả dường như không cảm thấy dấu hiệu của hội
chứng nhàm chán vần. Vào năm 1956
có được hình thức bài thơ như thế đã là rất mới. Có thể nói giá trị nghệ thuật
của bài thơ chỉ gồm trong hai chữ: cảm
xúc. Bài thơ (thực sự) lấy cảm
xúc làm chủ đạo. Mặc dù Lê Đạt đã có thể xử dụng ngôn ngữ đời
thường để diễn đạt những ý niệm trừu tượng, phức tạp một cách tài tình, nhưng
tựu trung, ngôn từ, câu cú trong bài thơ chỉ là những công cụ để khơi dòng, để
cho cảm xúc đầy ắp trong lòng tác giả chảy đến trái tim đọc giả. Sau vài câu
đầu, người đọc dường như không còn đọc nữa mà bị dòng cảm xúc của tác giả cuốn
đi. Chỉ trong phút chốc người đọc đã thấy mình ở cuối con kênh với trái tim rộng
mở, đón nhận trọn vẹn tấm lòng nhân ái, lửa giận dữ pha chút lo sợ của tác giả.
Đọc Ta Về, tôi tưởng tượng Tô Thùy Yên như một người khổng lồ đeo trên lưng một
bọc lớn đựng đầy cảm xúc. Đáy bọc có một cái vòi, có valse để có thể đóng mở
theo ý muốn. Thế rồi thi sĩ của chúng ta tay cầm xẻng đào hố, tay cầm vòi, mỗi
hố lại mở valse xịt vào một ít cảm xúc. Được 31 hố thì buông xẻng ngửa mặt lên
trời than rằng:
“Ôi! Bọc cảm xúc còn nhiều quá mà ta không còn đủ sức đào hố nữa rồi.”
(“Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta.”)
Trong khi đó Lê Đạt không đào hố. Thay vào đó, ông đào một con kênh dài rồi đổ
ào cả cái bọc cảm xúc xuống. Cảm xúc cứ nối tiếp nhau, nối tiếp nhau chảy thành
dòng cuồn cuộn. Và khi đến cuối kênh, dòng cảm xúc đã hợp đủ sức mạnh để đẩy
tung cánh cửa trái tim của độc giả.
Đọc Ta Về của Tô Thùy Yên người đọc sẽ lững thững đi tới từng chiếc hố – cả 31
hố, hố nào cũng đẹp – để thưởng thức đường nét tinh xảo của từng nhát xẻng, màu
sắc đẹp đẽ, sang trọng pha lẫn chút kiêu sa của cái khối cảm xúc ở trong hố, để
thấy khối cảm xúc đó sóng sánh như muốn trào lên miệng hố.
Đọc Nhân Câu Chuyện Mấy Người Tự Tử người đọc bị cuốn ngay vào dòng cảm xúc cuồn
cuộn của tác giả. Đến cuối dòng kênh, với sức mạnh tích lũy được do “sóng sau
dồn sóng trước”, cánh cửa trái tim của đọc giả đã được mở để từng tế bào của nó
ướt đẫm cái cảm xúc đau thương, tức giận, pha chút sợ sệt của tác giả.
Tô Thùy Yên, qua Ta Về, đã chú trọng rất nhiều đến các đoạn thơ. Tâm huyết của
ông đổ vào cho việc tuyển chọn ngôn từ, tạo dựng hình ảnh. Ông cho rằng: “…một
bài thơ dài thành công, tức không bị sa lầy vào sự phân giải lắm lời, phải là
một bài thơ mà mỗi đoạn ngắn của nó, nếu như được tách riêng ra, đã có đầy đủ
cường độ của một bài thơ hoàn chỉnh.” (Vài Suy Nghĩ Về Thơ Vần,dactrung.net).
Mỗi đoạn của Ta Về – đúng vậy – nếu tách riêng ra “đã có đầy đủ cường độ của một
bài thơ hoàn chỉnh.” Không những hoàn chỉnh mà còn rất hay, không một chút tì
vết. Nhưng gộp 31 đoạn thơ lại ta chỉ có 31 hố thơ, 31 vũng thơ chứ không có một
dòng thơ, như một dòng suối, dòng sông, biểu lộ dòng cảm xúc của tác giả.
Có thể nói Tô Thùy Yên, qua Ta Về, như một sĩ quan trong quân đội, đã biểu lộ
khả năng rất xuất sắc trong tổ chức, huấn luyện, chỉ huy ở cấp đại đội. Từng
người lính, từng tiểu đội trưởng, trung đội trưởng dưới quyền đều được ông tuyển
chọn, huấn luyện kỹ lưỡng. Cấp trên đến thanh tra hoặc quan khách đến thăm viếng
sẽ thấy các đại đội của ông đều hoàn mỹ, không một tì vết, không chê trách vào
đâu được. Nếu đụng trận đại đội của Tô Thùy Yên có thể đánh thắng đại đội đối
phương tương đối dễ dàng Nhưng nếu muốn xử dụng cả 31 đại đội ấy vào mục tiêu
quân sự lớn hơn thì lại thiếu phối hợp, không có sự chỉ huy thống nhất. Ngược
lại, 127 câu thơ trong Nhân Câu Chuyện Mấy Người Tự Tử của Lê Đạt không phải là
mấy chục đại đội riêng lẻ, biệt lập, mà là cả một sư đoàn (trừ) có sự chỉ huy
nhất quán từ trên xuống dưới. Các đơn vị cấp dưới có quân số không rập khuôn
cứng ngắc theo chỉ thị của bộ quốc phòng mà uyển chuyển thay đổi tùy theo tình
hình cụ thể.(Số chữ trong câu thay đổi) Đây đó cũng có người lính, có khi tiểu
đội trưởng, trung đội trưởng, đại đội trưởng có điểm này, điểm kia thiếu sót,
nhưng tất cả đều trên dưới một lòng, phối hợp, liên kết chặt chẽ để giúp cấp chỉ
huy của mình – Lê Đạt, người có tầm nhìn xa hơn – hoàn thành mục tiêu quân sự
lớn hơn.
Để kết thúc bài thơ, trong khi Lê Đạt tài tình gói ghém cảm xúc dạt dào của mình
trong lời kêu gọi dõng dạc, hào hùng:
“Phải quét sạch mây đen
cho chân trời rộng mở
Chặt hết gông xiềng
cho những cánh tung lên
Ngày và đêm
mộng bay đầy cuộc sống
Khát vọng theo khát vọng
Không gì ngăn cản con người.”
lưu lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng người đọc, còn Tô Thùy Yên, do quá ôm đồm,
quên rằng thơ nhắm vào điểm chứ
không nhắm vào diện,
thơ là cô
đọng chứ không phải dàn
trải, đã phải lên tiếng cam chịu thất bại:
Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thủa trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta
Thơ là trò chơi của cảm xúc (và chữ nghĩa). Nguyễn Hưng Quốc cho rằng: “Thơ là
cảm xúc đi tìm một đồng cảm.” Tôi suy rộng ra: “thơ là trò chơi chuyển tải cảm
xúc (đến người đọc) bằng kỹ thuật thơ ca.” Thi sĩ dùng kỹ thuật thơ ca đào bới,
khai phá, tạo ra con mương, con kênh rồi trút khối cảm xúc của mình xuống để
người đọc đón nhận. Lượng cảm xúc truyền đến người đọc càng mạnh, càng nhiều thì
bài thơ càng thành công
Khi viết Ta Về, so sánh với lúc Lê Đạt viết Nhân Câu Chuyện Mấy Người Tự Tử, Tô
Thùy Yên có khá nhiều lợi thế:
-Lúc ấy đã là những năm cuối của Chủ Nghĩa Hậu Hiện Đại (1945-1989). Các nhà thơ
đã thử nghiệm, có người thành công, nhiều thể thơ mới lạ, một mặt giải phóng tác
giả khỏi những ràng buộc về niêm luật, vần đối, số chữ trong câu, số câu trong
bài, để tự do bày tỏ cảm xúc của mình, một mặt vẫn giữ được vị ngọt của thơ ca.
Do đó, Tô Thùy Yên có nhiều thể thơ để chọn lựa hơn Lê Đạt.
-Tô Thùy Yên đang ở tuổi 47, 48 – độ tuổi chín mùi của tài năng thơ ca – trong
khi Lê Đạt mới 26 tuổi – còn rất trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm.
-Tô Thùy Yên mới cải tạo về, tuy thể xác còn bị quản chế nhưng vì viết cho đối
tượng độc giả khác nên tinh thần hoàn toàn tự do, trong khi Lê Đạt làm thơ và
xuất bản thơ trong một chế độ không có tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, vừa viết
lại vừa phải lách để khỏi đụng chạm với chủ trương, chính sách của đảng và nhà
nước.
Tô Thùy Yên có nhiều lợi thế như vậy, nhưng cuối cùng, nếu đem hai bài thơ đặt
lên hai bàn cân để so sánh giá trị nghệ thuật thì, theo thẩm định của người viết
bài này, bàn cân phía Lê Đạt không chỉ nhỉnh hơn một tý mà, có thể nói, đã nặng
hơn một cách rõ ràng.
Tôi không nghĩ Tô Thùy Yên kém tài. Cũng không phải ông viết trong lúc không dạt
dào cảm xúc. Chỉ tại, theo tôi, ông không chọn được thể thơ thích hợp.
Phạm Đức Nhì
*Phần Phụ Lục Tham Khảo (
Nguyên văn bài thơ Nhân
câu chuyện mấy người tự tử
của Lê Đạt và bài thơ Ta Về của Tô Thùy Yên ).
Nhân câu
chuyện mấy người tự tử
Lê Đạt
Ðọc báo Nhân dân số 822
Có đăng tin mấy người tự tử
Vì câu chuyện tình duyên trắc trở
Ðêm mùa hè nóng nôi
như lửa
Tôi ngồi làm thơ
Vừa giận, vừa thương mấy người xấu số
Chân chưa đi hết nửa đường đời
Ðã vội nằm im dưới mộ
Cuộc sống cho dù lắm mưa
nhiều gió
Nhiều cay đắng xót xa
Cũng còn đẹp gấp vạn lần cái chết
Chết là hết
hết đau
hết khổ
Nhưng cũng hết vầng trăng soi sáng trên đầu
Hết những bàn tay e ấp tìm nhau
Len lén, bước chân hò hẹn
Bây giờ gặp gỡ nơi đâu?
Dù có chết cùng nhau
Cũng vẫn là chia tay vĩnh viễn
Trời đầu xuân mây vần bão chuyển
Có lạnh không?
Tôi biết hai người khổ lắm
Còn gì buồn bằng không được yêu nhau
Nhưng sao lại chết?
Nhà đạo đức vuốt hàng râu mép
Hạ kính
lắc đầu
Chép miệng
“Hòa bình chủ nghĩa”
Tôi không nghĩ vội vàng như thế
Tôi đã từng yêu
từng đã khổ nhiều
Nhưng không thể tán thành cái chết
Tôi không thích loại cúi đầu theo số kiếp
Không sống cùng nhau
Thà chết cùng nhau
Con người ta cần cứng một cái đầu
Chọi nhau cùng số kiếp
Cắn răng vào cứ sống cứ yêu
Khi Lương Sơn Bá tương tư trên giường bệnh
Ngày một võ vàng
Ôm bóng người yêu mà chết
Khi Chúc Anh Ðài xăm xăm vào huyệt
Theo nhau cho trọn lời nguyền,
Cả rạp lặng yên
Những chiếc khăn tay đầm đìa nước mắt,
Sự thật cuộc đời đắng cay hơn nghệ thuật,
Lương Sơn Bá, Chúc Anh Ðài
Sống không được yêu nhau,
Chết còn được hóa thành đôi bướm,
Nhưng mấy người tự tử
Xác bây giờ mục nát dưới mồ,
Biết ai thương họ?
Có phải vì chúng ta quá yêu người cũ
Mà quên người sống bây giờ?
Có phải vì chúng ta mất nhiều trong Kháng chiến,
Nên chủ trương tiết kiệm lòng mình?
Có phải vì chúng ta muôn việc rối tinh
Ðành xếp lại chuyện mấy người tự tử?
Lịch sử trải qua bao nhiêu đau khổ
Những người chết thiêu trong lửa
Những người chết gục trong tù
Những người chết treo trên cột
Tùng xẻo lăng trì
Rỏ máu trên bàn thờ nhân loại
Cho con người được làm người
Cho con người được yêu được sống
Tôi muốn gào lên cho đến khi lạc giọng:
“Không gì đau thương
bằng
mất một con người
Sao họ lại đưa nhau đi tự tử
Có phải họ không bằng lòng chế độ
Bất mãn với cuộc đời?
Không.
Họ chưa hai mươi
Cô bé hôm nào mới lớn
Soi trộm vào gương, thấy má mình hồng
Nghĩ đến chuyện lấy chồng
đỏ mặt
Người con trai
ngồi trên gò đất
Thổi sáo gọi
người yêu
Làm nắng chiều
dừng lại
Lúa đương thì
con gái
Cũng thấy rộn
trong lòng
Xôn xao gió
thổi
Ðầu sát bên
đầu bàn chuyện tương lai
Thôn xóm tan
dần bóng đen địa chủ
Cuộc đời như ánh trăng mỗi ngày một tỏ
Sáng bừng lên
trong những chiếc hôn đầu
Chế độ ta không cấm họ yêu nhau
Mà sao họ chết?
Người công an đứng ngã tư
đường phố
Chỉ huy
bên trái
bên phải
xe chạy
xe dừng
Rất cần cho việc giao thông.
Nhưng đem bục công an
máy móc
đặt giữa tim người
Bắt tình cảm ngược xuôi
Theo đúng luật đi đường nhà nước
Có thể gây rất nhiều chua xót
ngoài đời
*
Ngày Phật đản vừa rồi được nghỉ
Tôi đến nhà Văn Cao
Hai đứa rủ nhau
đi ăn thịt chó
Văn Cao vốn là người nể vợ
Ăn xong mua một gói về nhà
Tôi bỗng giật mình,
(nhưng không để lộ ra)
Người chủ xé thơ tôi
gói thịt
Ngay lúc đó tôi chỉ còn muốn chết
Như dại như điên tôi oán đất, oán trời.
Nhưng hôm nay tôi chỉ oán mình tôi
Thơ tôi bị cuộc đời ruồng bỏ
Vì tôi đã ngủ quên trong chế độ
Vẽ phấn bôi son, tô toàn màu đỏ
La liệt đầy đường hoa nở
chim kêu
“Tốt tốt!
xà và!
tốt tốt!”
Qua thơ tôi
cuộc đời như hết chuyện
Có thể khoanh tay yên trí đi nằm
Như Thượng đế bước sang ngày thứ tám
Không! Không!
bóng những ngày xưa u ám
Còn lởn vởn che cuộc đời như gấu ăn giăng
Cải cách đợt năm
Tôi có qua thăm nhiều thôn xóm
Những cây lúa cúi đầu dưới ruộng
Ðã ngẩng mặt lên trời
Mơ ước mấy nghìn đời
biểu tình trên dãy thẻ
Lũy tre làng phơi phới bay xa
Mở rộng cửa đón những ông chủ mới
Ruộng đất nông dân được đội về cởi trói
Nhưng còn tim
còn óc con người?
Giữa năm Cộng hòa lớn khôn mười một tuổi
Vẫn còn lọt lưới
nhiều thói “an nam”
Dán nhãn hiệu
“Made in Cách mạng”
Ngang nhiên xúc phạm con người
Ðẩy họ đi tự tử.
Phải quét sạch mây đen
cho chân trời rộng mở
Chặt hết gông xiềng
cho những cánh tung lên
Ngày và đêm
mộng bay đầy cuộc sống
Khát vọng theo khát vọng
Không gì ngăn cản con người.
Hà Nội, tháng 6-56
Lê Đạt
Ta Về
Tô Thùy
Yên
Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay
Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ
Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay
Chỉ có thế. Trời câm đất nín
Đời im lìm đóng váng xanh xao
Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi, đất bạc màu
Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió cuối mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ
Một đời được mấy điều mong ước
Núi lở sông bồi đã mấy khi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi
Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng
Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này
Ta khóc tạ ơn đời máu chảy
Ruột mềm như đá dưới chân ta
Mười năm chớp bể mưa nguồn đó
Người thức mong buồn tận cõi xa
Ta về như hạt sương trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời
Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt
Tội tình chi lắm nữa người ơi
Quán dốc hơi thu lùa nỗi nhớ
Mười năm người tỏ mặt nhau đây
Nước non ngàn dặm bèo mây hỡi
Đành uống lưng thôi bát nước mời
Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh
Ai gọi ai đi ngoài cõi vắng
Dừng chân nghe quặn thắt tâm can
Lời thề buổi ấy còn mang nặng
Nên mắc tình đời cởi chẳng ra
Ta nhớ người xa ngoài nỗi nhớ
Mười năm ta vẫn cứ là ta
Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên
Nhà cũ mừng còn nguyên mái, vách
Nhện giăng, khói ám, mối xông nền
Mọi thứ không còn ngăn nắp cũ
Nhà thương-khó quá sống thờ ơ
Giậu nghiêng cổng đổ, thềm um cỏ
Khách cũ không còn, khách mới thưa
Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi
Hãy kể lại mười năm chuyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi
Chiều nay ta sẽ đi thơ thẩn
Thăm hỏi từng cây, những nỗi nhà
Hoa bưởi, hoa tầm xuân có nở?
Mười năm, cây có nhớ người xa?
Ta về như đứa con phung phá
Khánh kiệt đời trong cuộc biển dâu
Mười năm, con đã già trông thấy
Huống mẹ cha đèn sắp cạn dầu
Con gẫm lại đời con thất bát
Hứa trăm điều một chẳng làm nên
Đời qua, lớp lớp tàn hư huyễn
Giọt lệ sương thầm khóc biến thiên
Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn chờ sông
Ta gọi thời gian sau cánh cửa
Nỗi mừng giàn giụa mắt ai sâu
Ta nghe như máu ân tình chảy
Tự kiếp xưa nào tưởng lạc nhau
Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát
Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm
Cây bưởi xưa còn nhớ, trắng hoa
Đêm chưa khuya quá hỡi trăng tà
Tình xưa như tuổi già không ngủ
Thức trọn, khua từng nỗi xót xa
Ta về như giấc mơ thần bí
Tuổi nhỏ đi tìm một tối vui
Trăng sáng soi hồn ta vết phỏng
Trọn đời nỗi nhớ sáng khôn nguôi
Bé ơi, này những vui buồn cũ
Hãy sống, đương đầu với lãng quên
Con dế vẫn là con dế ấy
Hát rong bờ cỏ giọng thân quen
Ta về như nước Tào Khê chảy
Tinh đẩu mười năm luống nhạt mờ
Thân thích những ai giờ đã khuất
Cõi đời nghe trống trải hơn xưa
Người chết đưa ta cùng xuống mộ
Đâu còn ai nữa đứng bờ ao
Khóc người ta khóc ta rơi rụng
Tuổi hạc ôi ngày một một hao
Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh
Ngồi đây nền cũ nhà hương hỏa
Đọc lại bài thơ thủa thiếu thời
Ai đó trong hồn ta thổn thức
Vầng trăng còn tiếc cuộc rong chơi
Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thủa trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta.
Tô Thùy Yên
NỖI KHÓ XỬ CỦA BỐ NGÀY NHẬN GIẢI THƯỞNG
Suốt
thời gian này, nhiều trang mạng, báo giấy đưa tin bài về việc trao giải thưởng
HỒ CHÍ MINH và GIẢI THƯỞNG NHÀ NƯỚC, về niềm vui, nỗi tri ân cùng đại tiệc nhận
giải của các nhà văn, nhất là diễn văn của nhà văn Thái Bá Lợi đại diện các nhà
văn, nhà thơ, nghệ sỹ được trao tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2012:“Sự
nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam hơn 80 năm qua là nguồn cảm hứng bền bỉ và bất tận cho các thế hệ văn nghệ
sỹ trưởng thành cùng cách mạng. Giải thưởng Nhà nước cao quý là sự ghi nhận của
Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với những đóng góp của anh chị em văn nghệ sỹ cho
sự phát triển văn học nghệ thuật nước nhà…Tôi tin rằng các văn nghệ sỹ được nhận
Giải thưởng Nhà nước cao quý hôm nay cũng chia sẻ với tôi lòng biết ơn sâu sắc
đối với các thế hệ lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã chăm lo, dìu dắt, tin cậy và quan trọng là đánh giá đúng những
giá trị VHNT trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc mà buổi Lễ long trọng này là
một minh chứng. Cảm ơn nhân dân các dân tộc Việt Nam anh hùng – bầu sữa nuôi lớn
những khát vọng sáng tạo nghệ thuật, cũng là người thẩm định vô tư nhất, chính
xác nhất giá trị của các tác phẩm. Nghệ thuật chỉ có thể tồn tại khi nó tồn tại
trong lòng nhân dân, đồng hành cùng nhân dân…”,
tôi lại nhớ đến nỗi băn khoăn khó xử của bố khi nhận tin mình được trao giải chứ
không hề hồ hởi, hoan hỉ với những lời phát biểu hùng hồn như của nhà văn Thái
Bá Lợi.
Đó là đợt trao tặng giải thưởng Nhà nước năm 2007 cho bốn nhà thơ trong nhóm
Nhân văn Giai Phẩm (NVGP) xôn xao văn đàn một thủa.
Ngày ấy, nghe tin bố ở trong nhóm bốn nhà thơ NVGP được xét trao giải, tôi háo
hức đến thăm bố để chia sẻ. Tôi bất ngờ khi thấy bố không vui và có vẻ nghĩ
ngợi, liền ngây ngô hỏi: “Có vấn đề gì hả bố? Hay bố sợ không được?”. Bố lắc
đầu: “Bố khó xử quá. Bố không biết có nên nhận hay không?”. Hiểu cái cười có ý
ngầm chê “bố chảnh” của tôi, bố lại lên tiếng: “Áp lực lớn đấy. Mọi người đều
mong bố lên tiếng đòi hỏi một lời xin lỗi từ phía chính quyền”. Tôi bộp chộp cắt
lời: “Sao lại phải xin lỗi?”. Bố như tự nói với mình: “Cái Đảng và chính quyền
này không có thói quen xin lỗi. Từ trước tới này, những nhà cầm quyền ở VN không
có thói quen xin lỗi, đó là một nét văn minh mà không phải chính quyền nào cũng
có, càng không hy vọng ở VN.” Bố chợt cười khà khà: “Nhưng người ta có nhiều
cách để chuộc lỗi, không cứ phải nói câu xin lỗi. Có lẽ đây cũng là một cách xin
lỗi như lời nhà văn Đỗ Chu đã nói: “Coi như một lời xin lỗi của anh em đến các
anh”. Và bố nghĩ cũng không nên chấp quá, phải học cả tha thứ nữa. Vả lại, những
người gây ra chuyện đã chết cả rồi. Bắt những kẻ hậu bối phải trả giá những điều
họ không làm kể cũng khó”.
Thấy cái giải làm bố khó xử như vậy, tôi liền bàn: “Vậy bố từ chối quách cho
xong”. “Bố cũng muốn thế, nhưng chú Hữu Thỉnh nói bố mà lên tiếng thì việc xét
trao giải cho những người khác trong nhóm NV, vốn đã rất khó khăn sẽ bị dừng lại
ngay và bố cũng không phải làm bất cứ đơn từ gì. Như vậy bố thấy mình có tội với
gia đình bác Dần, gia đình chú Phùng Quán, mấy mẹ con con và nhất là bác Hoàng
Cầm, bác ấy rất cần tiền”. “Có nhiều không hả bố?”. “60 triệu”.
Tôi sáng mắt: “Oách đấy chứ. Đã bao giờ bố có nhiều tiền vậy đâu?”. “Đáng gì!
Hồi Hội Nhà văn làm lễ mừng thọ các nhà văn lão thành, số tiền cũng gần thế
nhưng bố có lấy đâu. Bố đưa hết cho bác Hoàng Cầm”. “Sao bố lại làm thế?”. “Vì
bác ấy cần hơn”. “ Nhà mình cũng nghèo mà”. “ Con không thể biết được đâu. Một
người nghiện khi cơn nghiện lên thì không làm chủ được bản thân, có thể làm bất
cứ điều gì, mà bố lại không muốn bác Cầm rơi vào tình trạng ấy”.
Tôi chợt nhớ đến những ngày khó khăn xưa của gia đình, khi suốt những năm học
phổ thông, tôi đến trường với những bộ quần áo cũ, với chiếc quần âu sờn rách
phía sau thì quay ra phía trước. Và khi không thể quay được nữa thì mẹ khâu đáp
cho tôi miếng vải khác. Cho đến tận lớp 10 (lớp 12 bây giờ) khi tôi lên bảng
chữa bài tập, bị các bạn cười trêu phía sau mông có hai “vô tuyến”, tôi còn tự
hào nói: “Mẹ tớ bảo chẳng có gì phải xấu hổ. Miễn đói cho sạch, rách cho thơm”.
Lâu lắc hơn nữa là phát hiện cực kỳ thú vị khi còn bé tí, đọc được trong một
cuốn Văn nghệ Quân đội rằng đồng bào Tây nguyên đốt giấy lấy tro ăn thay muối,
tôi mừng húm vì đã có thứ cho vào miệng để chống lại những cơn đói. Và thế là
những mẩu giấy, những lề báo với những chữ viết rất tháu của bố đã bị tôi đem ra
hóa tro với cớ bố vứt bừa bãi. Rồi những lần nhà không còn tiền, bố mẹ khuyên
đánh răng bằng muối cho chết hết những con vi trùng. Và cũng vì hết tiền, chúng
tôi có những bữa cải thiện bằng cách đem gạo đổi lấy bún, lấy bánh cuốn rồi bố
pha nước chấm cả nhà sì sụp...Vậy mà khi chú Nguyễn Thụ (một người em thân thiết
của bố-tác giả sân khấu) nói: “Trường Chinh đang lên. Hay anh đến gặp xem có thể
thay đổi được gì không?”. Hoặc: “Anh viết rồi đổi tên, em mang đi đăng chứ cứ
thế này thì khổ quá”. Chú đã bị bố mắng: “Tôi mà phải làm cái trò hèn mạt đó sao
?”, Với lại “ Người ta ăn để sống chứ không phải sống để ăn” mặc những thắc mắc
sao bố lại liên can đến ông Trường Chinh và tên bố lại phải đổi của tôi.
Rồi đầu những năm 80 của thế kỷ trước, khi mà lần đầu tiên sau ngày thống nhất
đất nước, các Việt kiều có thể về thăm quê hương, một cây bút trẻ ở Canađa đến
thăm bố. Thương hoàn cảnh bố, anh đã có nhã ý tặng bố mấy trăm đô và còn lên kế
hoạch sẽ quyên góp tiền ở bên ngoài gửi về tặng bố. Bố vội cảm ơn và từ chối. Và
khi nghe tôi hỏi sao bố không nhận, rằng nhà mình nghèo và mọi người tự
nguyện...Bố nhíu mày: “Bố mà phải dùng tiền người khác ư?”.
Rồi những ngày được phục hồi, chủ tịch Hội Nhà văn Hữu Thỉnh nói bố làm đơn để
xin xét duyệt nhà...Rồi có những doanh nhân thương bố, đề nghị được tặng bố căn
nhà tiền tỉ hoặc bất cứ căn nhà nào bố thích và tài trợ suốt đời cho bố. Bố đã
kinh ngạc đến cảm động trước những tình cảm mọi người dành tặng bố nhưng đều
nhất mực cảm ơn với lời từ chối. Bố không bao giờ để mình phải lụy những thứ
ngoài mình nhưng đến cái giải thưởng Nhà nước năm 2007, bố thật không có cách
nào từ chối. Bởi nó liên quan đến quyền lợi của những người bạn, gia đình những
người bạn một thuở Nhân văn cùng bố.
Dẫu sao giải thưởng cũng là một tin vui, tôi đề nghị làm một bữa cơm mừng nhưng
bố gạt phắt nói vớ vẩn. Tôi lại gợi ý đến một bó hoa tặng và sẵn sàng đưa rước
bố vào ngày đó nhưng bố xua tay nói chúng tôi không phải bận tâm vì đó là việc
chẳng quan trọng gì.
Và ngày trao giải đó trôi qua như thế nào chúng tôi không biết. Cho đến ngày bố
mang đến tận nhà riêng của tôi một số tiền. Thấy tôi không nhận bố nói: “Bố chia
đều cho các con mỗi người một ít. Còn đâu bố đưa mẹ. Con hãy nhận và coi như lời
xin lỗi của bố với mấy mẹ con”.
May mắn cho chúng tôi, suốt thời thơ trẻ không thấy bố có lỗi dù luôn phê bình
và thắc mắc về những cách ứng xử của bố. ( Bố đề ra những nguyên tắc nhưng không
giám sát,bắt buộc mà chỉ nhắc nhở vài câu khi con cái không thực hiện. Bố không
bao giờ đánh mắng con cái). May mắn cho chúng tôi là suốt thời thơ ấu, tuy lúc
này lúc khác chúng tôi bị chỉ mặt là con phản động và gặp những trục trặc trong
quá trình học tập nhưng đều tự nghĩ đó là lỗi của mình và bố nhất định không
“phản động”. May mắn hơn nữa là chúng tôi không chất chứa thêm nỗi đau “nhân văn
phản động” lên vai bố cũng như phải sống trong niềm day dứt ân hận sau này như
những người con khác trong gia đình những người bạn Nhân Văn của bố. Chỉ vì
những đứa con dại khờ đáng thương đó, trước tác động của dư luận bài trừ, phân
biệt đấu tố đã dằn hắt, oán hận, hoảng loạn đến mức từ mặt hoặc xông vào đánh
chửi, bóp cổ những người sinh thành ra mình. Vậy mà khi bố ra đi, chúng tôi mới
được biết rằng bố luôn dằn vặt, thấy có lỗi với chúng tôi, rằng bố đã không dám
khuyên chúng tôi theo những thiên hướng mà bố thích, bố chọn. Thậm chí bố không
dám đánh mắng chúng tôi vì sợ chúng tôi manh động, phản ứng lại kiểu “ Ông không
có quyền dạy dỗ chúng tôi. Ông là phản động. Ông không xứng là bố…” như những
người bạn Nhân văn của bố đã từng phải hứng chịu- qua tâm sự với một người em
họ, một người vốn coi bố là bậc thầy của mình. Bố thật đáng thương và đáng kính
của chúng tôi! Và vì thế chúng tôi càng trân trọng nỗi buồn của bố. Bố sẵn sàng
hứng chịu những điều tiếng cho riêng mình nếu điều đó có lợi cho bạn bè và những
người thân.
Bố không bao giờ chỉ nghĩ cho mình mà luôn vì bạn bè và những người thân.
Đào Phương Liên
|